Hoa Sen Trên Ðá
Ánh Sáng Vô Biên của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na

 

 

 

Trang Chủ

 

Chủ Trương

 

Tập Tin

 

Thực Hành

 

Thắng Trí

 

Diễn Đàn

  Nhập Cốc

 

 

 


   

THỰC HÀNH

Giới Định Huệ
---------

Điều Thân Điều Tức

Hộ Thân

Bắt Ấn

Xả Thiền
---------
Chánh Định Trên Đề Mục

Chứng Đắc Thiền Hữu Sắc

Quán Màn TV

Tu Tập Thần Thông
---------
Chứng Đắc Thiền Vô Sắc

Nhập Không Vô Biên Xứ

Nhập Thức Vô Biên Xứ

Nhập Vô Sở Hữu Xứ

Nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
---------
Minh Sát Tuệ

Nhập Diệt Thọ Tưởng Định

Nhập Lưu - Quả Vị Thánh
---------
Quán Vô Thường

Quán Từ Bi Hỷ Xả

Quán Thân Bất Tịnh
---------
Đàn Pháp Quán Thế Âm

Đàn Pháp Om Mani Padme Hùm

Đàn Pháp Văn Thù Sư Lợi

Đàn Pháp Phật Mẫu Chuẩn Đề

Đàn Pháp Ngũ Phật Trí
---------
Đức Phật Nhập Diệt
---------
Xem Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca
---------
An Trú Chánh Niệm Trước Mặt

Niệm Phật trong Công Phu

Niệm Phật Rải Tâm Từ

Kỷ Thuật và Niệm Lực
---------
Niệm Phật Độ Tử

Tụng Kinh

Trì Chú
---------
Chuông Trống Bát Nhã

Độ Sanh & Giải Nạn 

Hàn Hào Quang Tu Sĩ

Xác Minh Tu Sĩ

---------
Song Hành Nhập Định

Tu Sĩ Trợ Lực Tu Sĩ

Đồng Đội Trợ Lực

---------
Học Châm Cứu

Vạn Thắng Công

Sạc Pin Nhật Nguyệt

Chữa Bệnh Phòng Bệnh New
---------

 

     
"Giáo Lý của tui không phải là để đến
mà Tin theo, mà là để Thực hành"

Đức Thế Tôn

 

Châm Cứu

Tập nhìn hào quang trường kỳ cho tới khi thấy màu sắc rõ ràng mới thôi. Tốt nhất là ở trình độ Tứ thiền hữu sắc, với màn TV (thiên nhãn) nhuần nhuyễn, khi tập trung cao hơn: Mình sẽ thấy được nguyên hệ thống kinh lạc của châm cứu:
Khi hành giả chăm chú để tìm vị trí chính xác của huyệt đạo thì phần da chỗ đó lóe sáng lên và hành giả thấy rõ những cái ống, cái ống này không phải là dây thần kinh hay mạch máu gì cả mà đúng những đường kinh huyệt mà các sách châm cứu có vẽ lại.
Châm vào điểm sáng nhất hay tối nhất: Bịnh sẽ giảm.
Làm cách này mình sẽ rất mệt vì đã dùng thần thông can thiệp vào nghiệp quả của người khác. Bịnh nhân giảm bịnh thì hành giả sẽ bị đau đúng ngay cái chỗ mà bịnh nhân đau, tuy nhiên cường độ đau đớn ít hơn và ngắn hơn.

Vạn Thắng Công

Vạn Thắng Công có từ thời Phù Đổng Thiên Vương (Với Thế Vươn Vai), rồi qua Đinh Bộ Lĩnh (Với thế: Phi Lâu Diệu Thủ), rồi qua Trần Quốc Toản (Với thế nắm tay bóp bể trái cam) từ đây thế võ này bị thất truyền... cho đến 1966 tại Đồi Cù Đà Lạt, một dị nhân gặp một thằng bé mồ côi và vị này đã chỉ lại cho thằng bé. Mãi đến năm 1990 thì thằng bé sáng tác ra thế “Vổ Tay Thoát khỏi Hồng Trần”.
Vạn Thắng Công còn có tên là “Kim Báo Thần Công”.
Là một môn “Thần Công” thuần túy Việt Nam. Gọi là “Thần Công” chớ không phải là “Nội Công” là vì lý do sau đây:
            Nhờ niệm mà chuyển là tà.
            Không niệm mà chuyển mới là chính tông.
Người Việt Nam... không ưa những môn “Nội Công” của Tàu vì rất là khó tập. Bởi lý do dễ hiểu là: Không ai biết thực chất... cái Đan Điền nằm chính xác ở đâu trên vùng bụng. Và muốn thành công, khi tập Nội Công, thì phải dồn được khí xuống Đan Điền.
Dồn đúng thì phát kình lực, dồn không đúng thì bị trĩ, bị bất tỉnh, bị đau bụng y như triệu chứng kẹt ruột... Do vậy mà những tay nội công tập trật (số này khá đông) hay bị bịnh là vậy... Tập Thần Công thì không cần biết đến cái đan điền, chẳng cần dồn khí, chẳng cần... niệm cái gì hết mà khí vẫn chuyển... có thể chữa bệnh... ung thư như thằng bé đã nói lại cho đệ nghe vào năm 1991.
Quảng cáo như vậy đã đủ.
Nay thử nhìn anh Vĩnh Song tập 24 giờ môn Vạn Thắng Công. Tất nhiên, đây lại là một guinness nữa của anh ấy. Tụi đệ dùng phấn để ghi lại những giọt mồ hôi của anh ấy trên sàn gỗ. Lúc đầu những giọt mồ hôi nhỏ tại chỗ, nhưng khi anh ấy “Vô Xê” thì những giọt mồ hôi văng rất là xa, rồi khi anh ấy đuối sức thì những giọt mồ hôi không còn văng ra xa nữa. Khi anh ấy té xỉu trong khi quay thân hình vào thế cuối cùng thì anh ấy có những linh ảnh rất là bất ngờ. Anh kể lại: Tui thấy được thế giới Vô Hình... Và tui hiểu được cấu trúc của Bàn Thờ Việt Nam.
Có lẽ là Ngài rơi vào tình trạng này chăng?
Mến.
TB: Có một lần tập Vạn Thắng Công ở ngoài sân khi còn ở Đà Lạt, vào một ngày mây mù: đệ đã phá được một ô vuông rộng lớn những đám mây ở ngay trên đỉnh đầu của đệ.
Cảnh tượng nhìn cũng đã lắm: cả bầu trời Đà Lạt thì xám xịt duy chỉ có một chỗ ngay nhà của đệ thì mây không có và một bầu trời màu xanh dương xuất hiện... theo hình chữ nhật sắc cạnh.

Sạc Pin Nhật Nguyệt

Với những hành giả, sau khi vào Tứ Thiền, vì có nhiều việc phải làm: Độ sanh, độ tử, giải oan, giải nạn và cõng nghiệp cho người khác sẽ làm mất maú và tiêu hao năng lượng rất nhanh. Người lúc nào cũng lừ đừ bơ phờ, mặt mày xanh xao, không muốn ăn.
Trong trường hợp này ngoài việc ăn uống bồi bổ cơ thể và nghỉ ngơi dưỡng sức, tu sĩ cũng có thể dùng những phương thức đặc biệt:


- Phương pháp Sạc Pin Nhật Nguyệt:
Quán màn TV, quán chính mình vào, tay trái cầm mặt trời, tay phải cầm mặt trăng; dùng năng lượng ánh sáng của mặt trời và mặt trăng chiếu vào cái thấy là hành giả, âm dương trong người sẽ được bồi bổ và điều hòa. Việc sạc pin sẽ  rất hiệu quả khi mất năng lượng không dưới 50%. Ngoài ra với tu sĩ đã mở được kundalini (nội hoạ), sẽ dùng phương thức ănn ánh sáng.

- Hấp Thu Ánh Sáng:
Tu sĩ có thể khởi động Kundalini, thu nạp ánh sáng vào hệ thống luân xa trong cơ thể của tu sĩ, nặng lượng cuả ánh sáng này rất là thuần khiết sẽ giúp cho cơ thể cuả tu sĩ phục hồi một cách nhanh chóng.

Chữa Bệnh và Phòng Bệnh

Lâu nay tụi mình đều nghe là Thiền định có thể điều hoà được Tứ Đại và do đó mà cơ thể có thể duy trì một phần nào đó sự trẻ trung và hoạt bát của nó. Nhưng cũng chỉ là "tin đồn" và những biểu hiện mờ nhạt (như là trẻ hơn người thường, thông minh hơn, sức chịu đựng dai hơn ...) Nhưng cụ thể là như thế nào thì chưa có ai mà đi vào đề tài này.


Ngày hôm qua, trong dịp châm cứu người chị, tibu khám phá ra cách tự điều chỉnh "Tứ Đại" để mà phòng ngừa bệnh tật cho cả tâm bệnh và thân bệnh.

Quy trình vừa mới làm xong, còn nóng hổi:

Gợi hứng thứ nhất:

Câu đầu thứ nhì của Pháp Cú:
2. "Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo,
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình ".

Gợi hứng thứ nhì:

Nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng và khi tác ý về Tứ Đại thì có kết quả như sau:
   - Đất:      Nguyên tố của sự sống (hoá chất, tế bào, kim loại, thần kinh,  ...)
   - Nước:   Nguyên lý của sự sống (lực nối kết lại của các chất trong thân thể, sự uyển chuyển)
   - Lửa:      Biểu hiện của sự sống (sức nóng, và sức lạnh)
   - Gió:      Sinh động của sự sống (cục cửa, lưu thông, bế tắc ...)

Nguyên tắc:

Hành giả lần lược: "Quán" các Tứ Đại.
Kế đó là tác ý, làm cho nó hoàn chỉnh chừng nào hay chừng đó.

"Quán":

Là nhắm mắt 100% và dùng trí tưởng tượng để mà vẽ ra đề mục. Đề mục này xuất hiện ngay đằng trước mặt, ngang với tầm nhìn và cách xa khoảng một với tay.

Thực hành:

Đất: Quán một hòn bi to bằng mút đủa (cở 3 ly đường kính, d= 3 mm)
Nước: Quán giọt nước có bề ngang cỡ 3 ly (3 mm).
Lửa: Quán Ngọn lửa có bề ngang cỡ 3 ly (3 mm).
Gió: Quán cái cửa sổ có cái tấm màn và tấm màn này đang bị gió thổi và đông đưa tự nhiên. To bằng móng tay cái của mình.

Điều chỉnh:
Đất của tibu nó nứt nẻ và cũ kỹ (do tuổi già ...), tibu tác ý làm cho nó tròn quay lại và trơn láng ra và tô cho nó thành màu vàng.
Nước: Dơ và méo mó: tibu làm cho nó tròn trịa lại và làm cho giọt nước ... cho ra một giọt nước.
Lửa: mờ mờ, ảo ảo... thấy mà ghê: tibu tác ý làm cho nó hoàn chỉnh lại.

Kết quả:

Chưa có gì biểu hiện rõ ràng: Nhưng tư thế ngồi bỗng nhiên vững chải, chắc chắn và trẻ trung ra, người ấm ra và sức sống có chuyển biến tốt đẹp.

Gió thì cái màn cứng đơ, nghiêng cở 45 độ về phiá cái "Thấy": Tibu tác ý làm cho nó dẻo dai và uyển chuyển lại.
Kết quả: Có cảm giác hồi sinh cái gì đó trong thân thể

Hết

 

Hit Counter  

   

Last Edited: 03/11/2010  

 Contact:  Hoasentrenda@yahoo.com