|
Vạn Thắng Công
Vạn Thắng Công Bài 1,dạng
power point
Vạn Thắng Công Bài 2, dạng power
point
Diễn Đàn
Xuất thủ
(Kim Báo Long Trảo)
Các vị Lạt Ma Tây Tạng thường
nói: "Lha-Dre-Mig-Cho-Nang-Chig” nghĩa là
quỷ thần và nhân gian cũng bị chi phối
như nhau bởi những định luật huyền bí
của vũ trụ và những định luật thiên
nhiên.
Thay v́ phủ nhận
sự hiện hữu của những sức mạnh huyền bí
đó: Bởi lư do người ta không thể cân
lường hay quan sát phản ứng của chúng
dưới ảnh hưởng các hóa
chất trong pḥng thí nghiệm, những bậc
danh sư bên Đông Phương đă cố gắng tăng
gia khả năng kiểm soát của họ đối với
những mănh lực thần bí vô h́nh.
Bản chất thật sự của vũ trụ là “khí” từ
đó ta có động và tỉnh, hợp và tan, co và
dăn và nhiều tác động hổ tương khác.
Vũ trụ tuyệt đối trong trạng thái của nó
và được biểu lộ trong tính cách nhị
nguyên là Vô Song Nguyên Lư hay Thuyết
Âm Dương.
Người xưa dựa vô
quy luật của vũ trụ hay nói cách khác là
t́m sự biến đổi của hai hoạt động âm
dương và những thăng trầm của nó mà t́m
ra phương pháp thể dục để trị bịnh hữu
hiệu: Vừa phát triển đời
sống tâm linh bên trong, và vừa là một
môn vơ đạo tự vệ vô địch và bồi bổ cơ
thể đẹp đẻ và cường tráng.
Ngựi Tây Tạng đă khám phá ra những bí
quyết của những hiện tượng thần nhăn,
thần giao cách cảm và những hiện tượng
siêu h́nh khác. Nhiều vị có thể ngồi
trầm ḿnh trong tuyết lạnh và làm tan rả
băng tuyết chỉ qua quyền năng ư chí.
Các vị ấy cũng có thể khinh thân nhẹ
bổng lên không trung. Hai thầy tṛ có
thể mang đôi guốc đánh vơ trên mặt nước.
Những quyền năng đó không có ǵ là nhiệm
mầu cả, mà chỉ là kết quả của sự áp dụng
một vài điều luật thiên nhiên.
Các vị trung y cổ, các vơ gia cũng đă
dựa vào các định luật thiên nhiên mà
khám phá ra những tư thế (động tác) dùng
để trị bịnh hay những thế vơ cao siêu bí
ẩn.
Ngày nay chúng ta không t́m học cái gốc,
trái lại thường đeo đuổi cái ngọn tức là
tập luyện những trước tác vơ thuật của
các vị ấy, học như thế, chúng ta không
đủ tuổi thọ để học.
Hăy phản bổn hoàn nguyên, quay về học
cái gốc, t́m hiểu các vị đó dựa vô những
định luật nào để sáng lập ra những quyền
thức. Chúng ta hảy học cái định luật đó
rồi những đ̣n thế sẽ phát vô tận.
Cũng như chỉ bảy màu sắc mà Picasso đă
để lại bao nhiêu là tuyệt tác. Với bảy
nốt nhạc mà Mozart, Beethoven đă làm cho
ḷng người xao xuyến cảm hứng.
Các bậc tiền bối đă dựa vô vài định luật
của vũ trụ rồi áp dụng trên cơ thể (là
tiểu vũ trụ) để phát huy các chiến vũ và
được xây dựng trên hai ư thức: Dưỡng
sinh và chiến đấu.
Mỗi duỗi tay, chân của các chiến vũ,
trọng tâm duy nhất đều tập trung vô thế
“Xuất Thủ”, đó là chiến vũ khởi đầu.
Thế này, nói về vơ đạo là tất cả các
tinh hoa của các vơ phái cương nhu, nội
ngoại công phu v́ xuất thủ là một định
luật quan trọng nhất của vũ trụ về dưỡng
sinh và vơ đạo.
Trước khi tŕnh tấu một bản nhạc, người
nhạc công dạo đoạn mở đầu: Người sành
nhạc đă hiểu nội dung bài nhạc. Tương
tự như vậy chỉ cần học duy nhất một thế
xuất thủ là đủ, v́ đến mức tột cùng
chính là niềm giản dị lớn của tạo hóa.
Các tên gọi khác nhau:
1.
Xuất thủ liệu pháp dịch cân kinh
2.
Kim Báo Công Trảo
3.
Thôi Sơn Thủ
4.
Thế chèo đ̣ và quay tay
5.
Thế đánh đường xa
6.
Quả lắc đồng hồ
7.
Nội Giản Thần Công
8.
Hổn Nguyên Nhất Khí Công.
Ca quyết: Xuất thủ liệu pháp gồm 16 câu:
1.
Thượng nghi hư (Phần trên nhẹ
trống rổng)
2.
Hạ nghi thực (Phần dưới
nặng cứng, đầy đặc)
3.
Đầu nghi huyền (Đầu nên
để như treo)
4.
Khẩu nghi độc
(Mồm để
mặc, tự nhiên)
5.
Hung nghi nhị (Ngực hít thở đều đặn)
6.
Bối nghi bạc
(Lưng nên
thẳng đứng)
7.
Yên nghi trục (Eo như
trục)
8.
Tư nghi đao
(Cánh tay
nên đong đưa)
9.
Trửu nghi
(Cánh tay
nên để trầm xuống)
10. Uyên
nghi trọng (Cổ tay nên nặng)
11. Thủ
nghi hoạch (Bàn tay nên đưa)
12. Phúc
nghi hoạch (Bụng nên đưa)
13. Khóa
nghi tung (Nên để lỏng tự nhiên)
14. Công
nghi đề (Hậu nên chắc con lên)
15. Cân
nghi thạch (Góc chân chắc như đá)
16. Chi
nghi trảo (Ngón chân bám chặt mặt
đất)
Bất cứ bệnh ǵ đều không phải cố
định và bất biến, điều quan trọng là:
Tranh đấu và đấu tranh đến cùng để dành
được thắng lợi.
HL: Đây là lời nói của Anh Minh Đen, anh
bị ung thư gan và chỉ dùng chiêu này và
anh đă xuất thủ trong ṿng 24 giờ là hết
bệnh.
Xuất Thủ Trị Liệu:
Có thể trị được bệnh tật? Theo quan niệm
y học Trung Hoa: Khí huyết khó chuyển sẽ
phát sinh hàng trăm bệnh tật. Nếu khí
huyết thông suốt th́ trăm bệnh cũng hết,
tự nó biến đi.
Xuất thủ làm thông suốt khí huyết do đó
có thể cải tạo thể chất xem như khoa trị
liệu.
Phản ứng:
Khi tập Xuất Thủ, ta thấy có phản ứng rơ
rệt. Phản ứng ở chỗ khí huyết thay đổi:
Vùng ngực, vùng bụng nhẹ nhàng, chân thấy
nóng lên. Những chỗ máu chưa chảy tới đủ
nay đả thông dễ dàng. Tam Tiêu (Ba vùng
chính yếu ở thân thể: Đầu, ngực, và bụng)
cũng được thông suốt. Có người phản ứng
thấy nấc cục, ợ hơi, đánh rắm, nhức mỏi,
tê đau, nóng lạnh, ngứa ngáy, cảm
giác như
sâu ḅ, rung động.
HL: Cảm nhận mát mát từng điểm tṛn tṛn
trên thân thể đă được ghi nhận từ xa xưa
nên Xuất Thủ c̣n có tên là “Kim Báo Long Trảo”
Xuất Thủ làm thay đổi mạch.
Từ sự biến hóa của
mạch, có thể hiểu được sự biến hóa của lục phủ ngũ tạng,
sự mạnh yếu của thể chất.
Mạch b́nh thường: 60 đến 80 lần trong
một phút, mạch đập kéo dài, có sức mà
sâu.
Bệnh tim, huyết áp cao: Mạch nổi, mạnh.
Bệnh tim, già yếu: Mạch dưới 60 và đập
cạn.
Bệnh thận, thần kinh, điên: Mạch đập
nhanh và trơn nổi.
Các chứng về máu: Mạch chậm yếu, có khi
không thấy đập, cũng có khi 2 bên đập
khác nhau (do bị té …).
Bán thân bất toại: Hai bên mạch khác
nhau, chênh lệch ở chỗ xương một bên
thông suốt, một bên tăng áp lực.
Tại sao Xuất Thủ là cải tạo?
Mạch đập nhanh
v́ máu không chế được
khí, khí mất đi, thành phần máu sẽ không
đầy đủ (thiếu dưỡng khí), Xuất Thủ làm
cho máu có tác dụng chế được khí, hấp
thụ được dinh dưỡng. Mạch đập chậm v́
máu lưu thông trở ngại và thiếu về lượng
(áp huyết hạ), Xuất Thủ làm khai thông
máu huyết, máu tụ sẽ tản mát rồi mạch sẽ
b́nh thường trở lại.
Sự thay đổi mạch là sự thay đổi Kinh
Lạc.
Mạch bắt đầu từ
ngón chân. Trọng tâm của Xuất Thủ là ở
hai chân, chân mà dùng sức như cây mộc
rể, như đóng được cọc. Người
ta thường nói “Xem chân, xem cẳng” xét
ra cũng không ngoài ư trên.
Người già cả hai chân rung rẩy, tập vơ
cũng cần nhất “Mă Bộ” (Một thế tấn để
chiến đấu với sự phân bố trọng lượng là
30% ở chân trước và 70% ở chân sau). Máu
ở chân (tốt) lưu thông sẽ gây ảnh hưởng
tốt đẹp cho toàn thân.
Quyền thuật phải tập “Mă Bộ” cho thần
khí xuống đan điền đó là cứu văn lại
mọi tệ hại. Ngoài ra dưới ḷng bàn chân
có huyệt “Dũng Tuyền” (Nguồn Suối của
Sức Mạnh) rất quan trọng, là nơi thông
khí huyết lên thận con người.
Đối với Nhu Đạo: Động tác nhảy ếch là
một động tác rất quan trọng để luyện tập
phần dưới cho cứng chắc.
Trong môn Không Thủ Đạo, các lực sĩ
thường mang guốc sắt nặng 10 kư để tập.
Xuất Thủ là một động tác bao gồm sự vận
động của tay chân, thân h́nh, hô hấp,
mắt, di động của tinh thần. Nếu
động tác yếu đuối quá th́ không đủ lực
chuyển, nếu mạnh quá ta sẽ không đủ sức
đeo đuổi. Xuất Thủ nơi đây là
một động tác nhu nhuyển phô diển “luật
tuần hoàn của vũ trụ”.
Đặc điểm của
Xuất Thủ.
Thượng hư, hạ thực hay thượng tam, hạ
thất (trên ba, dưới bảy). Động tác dịu
dàng, tinh thần tập trung ở đan điền.
Làm như vậy có thể thay đổi trạng thái
“thượng thực hạ hư” của những thể chất
yếu kém, dần dần trở thành “thượng hư
hạ thực”: Bệnh tật tự biến mất.
Thượng tam, hạ thất là nguyên tắc
bất di bất dịch, là bí quyết của phương
pháp Xuất Thủ đă quy định rơ rệt mức độ
dùng sức của sự hư thực.
Khi đứng trong thế Xuất Thủ phần trên
của thân h́nh để tự nhiên, lưng thẳng
đứng, eo chắc. Chân phải cứng chắc, gót
chân bám chặt vào đất chắc như ḥn
đá. Nói về động tác tay, khi phóng ra
đằng trước th́ nhẹ nhàng tự nhiên đó là
“thượng hư” hay “thượng tam”.
Khi quật tay ra đằng sau th́ phải dùng
sức rồi theo trọng tâm của một vật, đó
là “hạ thực” hay “hạ thất”. Khi quay
tay, khớp ngón tay lúc hơi co, lúc th́
hơi duỗi, nhất là sự co duỗi ở cổ tay
lại càng lớn.
* Không dùng sức
không có nghĩa là hoàn
toàn để lỏng, v́ không gây được tác
dụng.
* Dùng sức không
có nghĩa là toàn bộ đều
dùng sức. Nếu tay dùng sức, chân không
có sức th́ sẽ mất động lực (thượng thực,
hạ hư). Bán thân bất toại cũng là mất
động lực. Sự công hiệu của Xuất Thủ là
điều chỉnh được sự mất động lực, lấy lại
được quân b́nh.
Tầm quan trọng của sự dùng sức ở chân.
Ở chân có nhiều huyệt vị của ngũ tạng và
lục phủ. Huyệt “Dũng Tuyền” ở ḷng bàn
chân chạy tới thận tạng. Mỗi khi tim đập
mạnh, mất ngủ: Xoa bóp huyệt này là ngủ
được. Say rượu bôi vôi cũng nơi này là
giải rượu. Dựa vào những huyệt đạo ở
chân, người ta có thể chữa được những
căn bệnh về lục phủ, ngũ tạng. Xuất Thủ
có thể chữa được trăm bệnh không phải là
điều phóng đại. Bản thân Xuất Thủ đă là
một phép lạ rồi.
Nguyên lư.
Lư dưỡng sinh và vơ đạo của Xuất Thủ đặt
căn bản trên lư tiến hóa của Trời Đất,
tức là Thái Cực. Hổn nguyên khí (Koilon,
Ojas …) của vũ trụ có sức ép khoảng một
trăm triệu tấn trên một phân vuông. Xuất
Thủ là lợi dụng sức mạnh của Thiên Nhiên
làm sức mạnh của ḿnh.
Tổ sư Yeshiba suốt đời không có đối thủ
nào quật ngă được là nhờ luyện thành
“Hổn Nguyên Khí Công” . Với cách nói
tràng đầy tính Đạo ông phát biểu:
“V́ tôi là tiểu vũ
trụ ḥa đồng với đại
vũ trụ, nên ai đụng tới tôi tức đụng tới
đại vũ trụ mà vũ trụ th́ không ai lay
chuyển nổi.”
Trên hai vai, phía
sau lưng có huyệt “Cao Hoan”, kích thích
huyệt này sẽ tiêu trừ mọi chứng bệnh. (HL: Huyệt này khi hơ nóng th́ có khả
năng tăng hồng huyết cầu, mà nhiều hồng
huyết cầu th́ máu đem nhiều dưỡng khí
nuôi cơ thể. Tập Xuất Thủ một thời gian
th́ môi son và móng tay th́ hồng là do
huyệt này làm ra)
Hai tay đưa lên trời là hạ hỏa ở Tam
Tiêu (bộ tiêu hoá).
HL bàn: Khi tập Xuất Thủ th́ con người
lúc lắc và đong đưa nên Khí và Huyết bị
lực ly tâm đưa lên năo bộ rất là nhiều:
Để ư là sau vài phút tập th́ gân máu ở
chân biến đi đâu mất. Và khi tập từ từ
lại th́ máu lại dồn trở xuống (do lực
ly tâm bớt mạnh đi) và nhất là nhờ vào
cách uốn éo mà có thể làm cho các bế tắc
ở ba vùng quan trọng trong thân thể (Tam
tiêu: Đầu, ngực, và bụng) được
súc sạch
sẻ và khai thông.
Các pháp tấn rất cần yếu v́ nó dẫn khí
xuống tận đan điền, trừ được hỏa Tam
Tiêu. (lời bàn dựa theo kinh nghiệm thực
chứng của HL ở trên)
Các Đạo Gia thường nói:
"Con người cũng như là Trời Đất: “Trời
thanh mà nhẹ, Đất nặng và trọc” .
Nếu không hiểu thâm lư này mà để cho
“trên nặng dưới nhẹ” là trăm bệnh dễ
sinh ra, tánh mạng phải ngặt nghèo.
Quyền thuật phải luyện tập mă bộ cho
thần khí xuống đan điền đó là cứu văn
lại mọi tệ hại.
Đan điền là gốc rể của thảo mộc, bồi
dưỡng đan điền là bồi dưỡng cái gốc rể
khiến cho nó được ấm nhuần.
Đan điền mỏng từng lớp như cánh sen. Khi
mới sanh ra rất dễ thấy nhờ nó thoi thóp
và rất quan hệ đến tính mạng.
Vận dụng đan điền làm cho tinh khí vận
chuyển mạnh mẻ. Người tập Xuất Thủ: bụng
th́ to ở phần dưới chỗ đan điền. Bụng
dưới tṛn nhẳn láng, không có người
thành tựu Xuất Thủ nào mà bụng teo như
con ve đực. Nếu người ấy cởi trần ta sẽ
phần bụng dưới thoi thóp nhẹ nhàng đó là
họ thở bằng bụng, người thường thở bằng
ngực. Trong Vơ Đạo, đan điền là trọng
tâm của tinh thần. Thể chất và tinh thần
cùng quy chú về đan điền gọi là “thể xác
và tinh thần hợp nhất” .
Đó là sức mạnh đích thực của vũ trụ mà
các bậc hành giả cố gắng tu luyện.
Ngày nay môn Aikido cũng như những vơ
phái khác cùng tôn trọng chân lư:
Tinh thần điều chỉnh thể xác.
Tư tưởng là những âm ba rung động
của tinh lực. Vật chất chỉ là tinh lực
đông đặc lại.
Một tư tưởng nếu biết đúng cách và kết
tinh lại có thể di chuyển một đồ vật.
Nếu biết điều khiển nó theo phương pháp
thần giao cách cảm, người ta có thể làm
cho một người khác ở cách xa cảm nhận
được ư nghĩ của ḿnh và có thể hành động
một cách thích nghi theo ư ḿnh muốn.
Trong phép Xuất Thủ, chúng ta quay hai
tay theo lực ly tâm hay là lúc phóng tay
ra theo ṿng tṛn quỷ đạo từ dưới lên
trên và khi thu tay về cũng theo ṿng
tṛn quỷ đạo ngược lại. Tác dụng làm cho
khí lưu thông từ đan điền ra các đầu
ngón tay hay là đả thông kinh mạch (Phế
Kinh, Tâm Kinh, Tam Tiêu Kinh, Tâm Bào
Lạc và Đại Trường Kinh). Cử động quay
tay dẫn khí và huyết lưu thông qua các
vùng vai, toàn thân hai tay, ngực, lưng,
bụng …
Động tác này làm cho máu huyết lưu thông
đến tận các mao quản nhỏ nhất.
HL: Đây là một điều quan trọng trong
các chiến vũ. Khi mạch máu bị dồn một
cách tự nhiên ra cái mao quản nhỏ nhất
th́ trên năo bộ cũng diễn ra hiện tượng
y chang như vậy: Thế là khi suy nghĩ
điều ǵ, thay v́ ngồi một chỗ th́
nên thử vừa Xuất Thủ và vừa suy nghĩ xem có ǵ khác
lạ hơn không? Đối với HL th́ khả năng
“đau lưng do ngồi suy nghĩ nhiều quá”
biến đi đâu mất, và kết quả hiện ra
nhanh hơn.
Máu huyết sẽ sinh
ra nhiều tinh (30 giọt máu sinh ra một
giọt tinh). Nếu tinh mất th́ hai thứ c̣n
lại cũng rời khỏi thân thể. V́ “Tinh”
chế thành “Khí” mà “Khí” lại hóa thành “Thần”.
Đến đây là hết phần kỷ thuật của Thế
Xuất Thủ.
Tuy nhiên, khi HL gặp anh Minh Đen th́
cũng có trao đổi và có ghi nhận thêm vài
khẩu quyết quan trọng khi tập Xuất Thủ
tới chiêu thức thứ ba.
Đại khái là:
Chiêu đầu tiên là: Xuất Thủ (sáng tác
vào thời Phù Đổng Thiên Vương)
Chiêu thứ hai là: Phi Lau Diệu Thủ (sáng
tác vào thời Đinh Bộ Lĩnh qua truyền
thuyết là “Lấy Cờ Lau mà tập trận”)
Chiêu thứ ba sáng tác tại Đà Lạt với tên
là: Vỗ Tay Thoát Khỏi Hồng Trần.
Tuy rằng là được anh Minh Đen dặn là
đừng có phổ biến những khẩu quyết sau
đây một cách đại trà, nhưng v́ xét thấy… theo năm tháng, những khẩu quyết này,
nếu áp dụng đúng cách, cũng chỉ có tác
dụng là phát triển thể lực, linh tính và
một vài khả năng thần bí thuộc loại
thường thường.
Nên sau khi suy nghĩ kỹ càng th́ HL sẽ
ghi ra đây thêm ba khẩu quyết nữa.
Chỉ là ghi ra mà thôi, không có b́nh
luận và giải thích:
1. Khẩu quyết thứ nhất là: Khi ôm là ôm vào cả Vũ Trụ.
2. Khẩu quyết thứ hai là: Khi kéo là kéo cả Vũ Trụ.
3. Khẩu quyết thứ ba là: Nên Xuất Thủ lần lượt theo từng hướng
một, trong tám hướng chính. Hay là cả
tám hướng trong một lần tập th́ cũng
được.
Hết.
Vạn Thắng Công và Om Ah Hùm
Trigia: Anh Hai hỏi B tập tành VTC ra sao rồi.
Bt: Dạ, đang tính email cho chú nhưng chưa kịp.
Ngày xưa, khi Chú Tibu chỉ, con tập hăng lắm. Con tập liên tục chừng 5 phút thì chịu không nổi, lúc đó chỉ cảm thấy khỏe thôi. Sau này, chú Tibu nói tập đừng nên nhanh quá, tập vừa vừa sức của mình như chạy Marathon vậy, có thể chạy lâu chạy dài được.
Với một bí quyết nửa của chú Tibu, con tập vài ngày thì có những triệu chứng rất lạ. Đầu tiên, con cảm giác rất vui. Cái vui của sự thanh tịnh. Cái vui nằm bên trong và âm ỉ vui làm mình cảm giác mạnh mẻ và vui vui, chứ không phải cái vui vẻ bình thường. Vài ngày sau, khi đi cầu, dầu phun ra rất nhiều. Lúc đó, con nghi ngờ đó là kết quả của Vạn Thắng Công, nên hỏi chú Tibu, và được cho biết là Vạn Thắng Công đẩy chất độc hay những chất dư thừa trong cơ thể ra. Tình trạng này kéo dài khoảng 3 ngày.
Và đây là bí quyết mà Chú Tibu chỉ con. Bí quyết là áp dụng 3 chữ OM, AH, HÙM khi tập:
1. OM: Khi đánh tay xuống lần thứ nhất, thì đọc trong tâm: OM.
2. AH: Khi đánh tay xuống lần thứ hai, đọc trong tâm: AH
3. HÙM: Khi đưa tay lên trời (thế 1) hay chặp 2 tay vào nhau (thế 2 và 3), thì đọc: HÙM.
Chỉ có nhiêu đó thôi. Trạm 1 đã kiểm tra mẹ nó khi tập VTC với ba chữ này thì thấy hào quang phóng ra rất mạnh và xa, đồng thời nó nói, ba chữ này có nhiều công dụng khác nửa như trị bệnh, v.v... Có gì chưa rõ, nhớ cho con biết nha :-)
QT: Chú Tibu cũng có chỉ con tập chiêu thứ 3 với OM AH HUM, mục đích lúc đó để chữa bệnh cột sống cho Chị của con và con nhớ không lầm là chỉ có 2 hoặc 3 ngày là chị hết đau... vừa tập VTC vừa nghĩ đến người mình muốn chữa bệnh, và khi tập xong thì massage ngay vùng bị đau, người bệnh sẽ thấy rất dễ chịu. Trong ngày mình nên dành nhiều thời gian để nghĩ đến người đó nữa. thật là hay vậy đó …..
HL: ….. Qua chuyện QT đã đưa ra kết quả cùng với chuyện ị ra dầu và vui lân lân, là mình có quyền đưa ra cho bà con tập là ngon lành rồi. Sở dĩ, mình dùng Om Ah Hùm khi niệm trong tâm mà không có để ý tới là phải dùng lực ra làm sao (Như là phóng ra đằng trước mặt như thường làm), nên tự nó chấn động đến cả ba hệ thống của Chư Phật và Bồ Tát trong ba thời: Quá khứ (Om), Hiện tại (Ah) và Vị lai (Hùm). Vì là động công nên nó là cái nền rất là vững chắc để những người mới tu tập (tâm lực chưa mạnh) có thể phát huy được phần nào sự cầu nguyện của mình cho một người nào đó. Đồng thời do VTC nó có tác dụng là... tự tạo ra những dây chằng trong não bộ nên người tập, sau một thời gian, sẽ thấy rằng mình tự nhiên rất là thằng bằng: Ít khi nào mà bị trợt chân mà... té lắm.
Trigia: Như vậy thì ngoài tác dụng trên thân khác nhau ở từng người, công năng thuộc tâm linh của VTC phát triễn cũng khác. Thanh tịnh thì bớt sân hận.... Chú thì lại hay vở lẽ nhiều thứ linh tinh trong khi tập VTC. Sự phát triễn thuộc dạng Linh Tính, đôi lúc lại là Trí Tuệ. Chỉ biết kết luận VTC thật là lạ. Khó có thể hiểu cho hết được sự vận hành của nó. Chỉ duy vừa tập vừa kiểm tra lại với bài viết Xuất Thủ thì y chang như vậy. Đó là chỉ mới tập trong 20 - 30 phút thôi. Nếu tập cở 2,3 tiếng mỗi ngày thì cái gì nữa phát sinh chưa hiểu được. Anh Bt có thể nói lại cho rõ hơn không
Bt: Đọc OM, AH là khi đánh tay qua một bên. Thánh gióng cầm gậy tre đập qua trái (OM), đập qua phải (AH), và bay lên trời là lúc đứng đinh tấn hay tay đưa lên trời (hay chặp tay lại với nhau), thì mình đọc HÙM. Con trình bày lại 3 chiêu này với phần OM, AH, HÙM:
Chiêu 1- Xuất Thủ:
a. Khởi thế với Trảo Mã Tấn. Hai tay nắm nhẹ, và làm đồng thời những việc này cùng một lúc:
-- Đánh tay qua một bên
-- Hít vào bằng mũi.
-- Nhìn vào phần lỗ rún (Đan Điền)
-- Đọc trong tâm: OM
b. Quay người và rơi lại trong tư thế Khởi Thế hướng đối nghịch, và đồng thời làm những việc này cùng một lúc:
-- Đánh hai tay qua một bên
-- Hít vào bằng mũi.
-- Nhìn vào phần lỗ rún (Đan Điền)
-- Đọc trong tâm: AH
c. Tất cả những việc này đồng làm cùng lúc:
-- Chân chuyển thành Đinh Tấn
-- Thở ra bằng miệng
-- Đánh hai tay lên trời,
-- Đọc trong tâm: HÙM.
Đến đây là kết thúc chiêu đầu tiên. Và tiếp tục đánh 2 tay xuống qua 1 bên, chân chuyển thành
Trảo Mã Tấn, hít vào bằng Mũi, nhìn vào phần lỗ rún, và đọc trong tâm: OM để trở về chu kỳ đầu của chiêu 1, và cứ tiếp tục như thế.
Chiêu 2 – Phi Lâu Diệu Thủ:
Giống như chiêu thứ nhất, chỉ khác là hai tay ôm vòng từ dưới lên trời sao cho các ngón của hai bàn tay chặp vào nhau thay vì đánh 2 tay lên trời
Chiêu 3 – Vỗ Tay Thoát Khỏi Hồng Trần:
a. Khởi thế với Trảo Mã Tấn. Hai tay nắm nhẹ, và làm đồng thời những việc này cùng một lúc:
-- Đánh tay qua một bên
-- Hít vào bằng mũi.
-- Nhìn vào phần lỗ rún (Đan Điền)
-- Đọc trong tâm: OM
b. Quay người và rơi lại trong tư thế Khởi Thế hướng đối nghịch, và đồng thời làm những việc này cùng một lúc:
-- Đánh tay qua một bên
-- Hít vào bằng mũi.
-- Nhìn vào phần lỗ rún (Đan Điền)
-- Đọc trong tâm: AH
c. Tất cả những việc này đồng làm cùng lúc:
-- Chân chuyển thành Đinh Tấn
-- Thở ra bằng miệng
-- Hai tay ôm vòng từ dưới lên trời sao cho các ngón của hai bàn tay chặp vào nhau.
-- Đọc trong tâm: HHÙÙMMM
-- Hơi thở ra và âm thanh: HHÙÙMMM sẽ kéo dài tiếp cho hết chiêu này lúc vỗ tay:
-- Kế tiếp chuyển từ Đinh Tấn lùi người ra sau thành
Trảo Mã Tấn,
-- Hai tay cũng đồng chuyển đánh từ sau ra phía trước song song với chuyển từ Trảo Mã Tấn sang Đinh Tấn ….vv
Đúc kết lại thì 1 người bình thường mới tập có thể tập chiêu 1 trong 3 tháng.
Làm thêm chiêu 2 trong 3 tháng kế tiếp.
Tập chiêu thứ 3 và chỉ tập chiêu này cho đến khi nhuần nhuyển. Nhuần nhuyển là khi các động tác từ tay, chân đến bộ tấn được múa nhịp nhàng và kết hợp hòa điệu với hơi thở.
Và sau rốt là áp dụng Om Ah Hùm vào VTC như đã trình bày ở trên.
Hy vọng là nhóm sẽ làm được 1 clip video mới rõ hơn cái cái trước.
Như vậy là xong 3 chiêu của Vạn Thắng Công.
Om Ah Hùm
OM là nguyên ngôn của Vũ
Trụ
Ah là nguyên ngôn (âm thanh căn bản) của
các loài hữu t́nh.
Hùm là chấn động hướng về tương lai.
Giải thích tư xíu về âm thanh Hùm:
Sở dĩ có chuyện này là khi hành giả đánh
nhau với Hộ Pháp (Đây là một phần quy
tŕnh để tiến tới cách vào Chơn Như bằng
con đường "Có"). Vào lúc gần xong trận
đánh th́ tới lúc cả hai (Hành Giả và Hộ
Pháp) tung ra những tuyết chiêu như là
quăng chày Kim Cang lên và chày này sẽ
bay theo ư tưởng của Hành Giả. Lúc chày
của Hộ Pháp đụng vào cơ thể của hành giả
th́ nó phát ra một âm thanh to khủng
khiếp. Nhưng nếu hành giả đủ b́nh tỉnh
để nghe cho được th́ nó có âm thanh là
Hùm. Do hiện tượng này mà nói là chữ Hùm
hướng về tương lai.
Cũng vậy, chữ về quá khứ là Phát do chày
đụng vào đằng sau lưng).
Trong các câu chú, lại có những câu tận
cùng bằng: Hùm Hùm Hùm, Phát Phát Phát
là có ư này đây.
Hết phần giải thích.
Nay bàn tiếp về Om Ah Hùm
Vạn Hành của Om AH Hùm:
Trong chấn động vũ trụ (ư nói về nguyên
ngôn OM): Chấn động hay nhất là sự trao
truyền lại kinh nghiệm Tâm Linh.
Trong chấn động của các chúng hữu t́nh (nguyên
ngôn Ah): chấn động hay nhất là ...
thuyết pháp Giải Thoát.
Trong chấn động hướng về tương lai ( Hùm):
vốn là một chuyển biến có tính cách nối
liền ba thời:
Quá Khứ (ḿnh đă từng làm chuyện này).
Hiện Tại (hiện này ḿnh đang làm: Do đưa
ra câu hỏi, nhận xét về kinh nghiệm,
phương pháp ...).
Tương lai (là ḿnh sẽ c̣n làm dài dài
những chuyện này trong tương lai).
Do ḿnh làm như vậy trong thực tế đời
sống hằng ngày: nên khi ḿnh tụng trong
tâm:
Om Ah Hùm th́ ḿnh đụng đến một thứ ngôn
ngữ tâm Linh của Chư Phật và Chư Bồ Tát
trong ba thời quá khứ, hiện tại, và
tương lai.
Ngoài ra Vạn Thắng Công (VTC) là một
động công có tính cách tạo nên một cái
nền vững chắc qua những chuyển động tự
nhiên của khí huyết. Nên khi ḿnh tập
VTC và tác ư Om Ah Hùm, cộng với tính
cách trao truyền kinh nghiệm tâm linh
thực sự trong sinh hoạt hằng ngày. Th́
sự chấn động đến cả ba hệ thống của Chư
Phật và Bồ Tát trong ba thời: Quá Khứ,
Hiện Tại và Vị Lai là chuyện tự nhiên.
Mà người ta ghi gọn lại thành Om (quá
khứ) Ah (hiện tại) Hùm (vị lại) là vậy.
Hết
|