Hoa Sen Trên Đá

An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt

Tháng Sáu 16, 2019, 01:39:48 AM *
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.

Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát
Tin tức     1 người đang vào nhập cốc. Tổng số nhập cốc: 5. Thời điểm cùng nhập cốc nhiều nhất: 01:22 PM
 
   Trang chủ diễn đàn   Trợ giúp Tìm kiếm Lịch Đăng nhập Đăng ký  
Trang: [1] 2 3 4 5 6 7 ... 10
 1 
 vào lúc Hôm nay lúc 12:17:08 AM 
Tác giả bongsen - Bài mới nhất gửi bởi bongsen
THỦY HỎA - KHÍ HUYẾT (Theo đông y tân giải - BS Lê Văn Trực)

Thủy Hỏa
Âm Dương là ý niệm trừu tượng để tổng quát hóa nguyên lý mâu thuẫn hỗ tương của hai thể đối lập trong mọi sự vật.
Về mặt Y học. Âm Dương là thể, Thủy Hỏa là dụng; ý cổ nhân muốn nói Âm Dương là nguyên lý, Thủy Hỏa là thực thể. Thủy là phần Âm nhưng phần Âm (Âm phận) của cơ thể không phải chỉ có Thủy. Hỏa là Dương nhưng phần Dương (Dương phận) của cơ thể không phải chỉ có Hỏa. Tuy nhiên, Thủy Hỏa là hai yếu tố quan trọng bậc nhất để lập mệnh. Không Thủy hoặc không Hỏa, con người không tồn tại. Đông y chia Thủy và Hỏa mỗi thứ làm hai:
-   Thủy có Thủy Hậu Thiên và Thủy Tiên Thiên
-   Hỏa có Hỏa Hậu Thiên và Hỏa Tiên Thiên
Hậu thiên là hữu hình, thấy được, đo được, cảm được.
Tiên Thiên là vô hình, không thấy được, không cảm được và là gốc của Hậu Thiên.
[…]
Tương quan giữa Thủy Hỏa Tiên Thiên
Âm Dương là tiếng gọi, là ý niệm nói lên hai tính chất mâu thuẫn hỗ tương. Lúc bàn về Âm Dương, thấy Âm trong Dương, Dương trong Âm; bàn về Hà Lạc Đồ thì có Âm trong Dương ngoài hoặc Dương trong Âm ngoài. Ở đâu có Âm thì ở đó có Dương, ở đâu có Dương thì ở đó có Âm. Hà Đồ bảo: “Thiên Nhất Sinh Thủy, Địa Nhị Sinh Hỏa” nghĩa là trước hết có Thủy Hỏa.
Đối với con người Thủy và Hỏa là hai yếu tố quan trọng, căn bản cho sự sống. Thủy Hỏa là hai thực thể của Âm và Dương. Như vậy ở đâu có Thủy thì ở đó có Hỏa, ở đâu có Hỏa thì ở đó có Thủy. Thủy Hỏa nương tựa vào nhau như sông nước và mặt trời. Nước không có mặt trời thì không vận chuyển được, mặt trời không có nước thì chỉ có sự đốt cháy. Mặt trời dựa vào nước, nước dựa vào mặt trời để sinh vật nảy nở như Thủy Hỏa trong con người nương tựa vào nhau để con người tồn tại và phát triển. Nếu con người không Hỏa mà chỉ có Thủy có khác gì trởi chỉ có mưa mà không nắng (Bắc cực).
Tôi đã từng dùng bài Lục Vị để chữa người Thủy hư; sau lúc uống thuốc bệnh nhân có cảm giác như đại hạn gặp mưa. Bài Bát vị để chữa người Hỏa hư; sau lúc uống thuốc bệnh nhân có cảm giác như mùa đông gặp nắng ấm.
Thủy hỏa nương vào nhau một cách mật thiết và là hai yếu tố của lập mệnh cho nên Đông y chú trọng đến Thận Thủy, đến Mệnh Môn Hỏa và Tâm Hỏa.
Tôi đã dùng sinh lý Tây y để giải thích rằng Thận Thủy là vỏ nang thượng thận, là Aldosterone của vỏ nang thượng thận (Adrenal Cortex). Mệnh Môn Hỏa là tủy nang thượng thận, là Adrenalin của tủy nang thượng thận (Adrenal Medulla). Tâm Hỏa hay Quân Hỏa là Thyroxine của Tuyến giáp trạng (Thyroid). Tôi cũng đã giải thích một cách giản lược cơ chế hoạt động của Aldosterone, Adrenalin và Thyroxine nghĩa là giải thích cơ chế hoạt động của Thủy Hỏa trong Tây y. Đối với Đông y, chỉ giải thích Thủy Hỏa theo hiện tượng như nóng, khô là Hỏa; lạnh ướt là Thủy.vv… Riêng về cơ chế của Thủy Hỏa, Đông y phải nhờ đến Dịch Học để giải thích nào thăng nào giáng, nào Thủy trong Hỏa hoặc Hỏa trong Thủy, hoặc Thủy Hỏa Ký Tế, Vị Tế,.vv… Tôi phải diễn giải ở đây để giới Tây y hiểu lý luận Đông y về Thủy Hỏa, cũng như giới Đông y hiểu lý luận của Tây y về Thủy Hỏa mà tôi đã dẫn chứng một cách thô thiển ở trên.
Theo Y Dịch, Đông y bảo quẻ Khảm ứng với Thủy, là biểu tượng của Thủy.
 
Quẻ Khảm gồm hai hào Âm bọc lấy một hào Dương. Thận thuộc Thủy, quẻ Khảm ứng với Thủy tức ứng với thận. Thận thuộc Thủy, thuộc Âm. Hai hào Âm tượng trưng cho hai thận. Hào Dương ở giữa tượng trưng cho Hỏa. Hỏa đó là Hỏa nằm trong Thủy, có tên Long Hỏa, Tướng Hỏa, Mệnh Môn Hỏa. Dựa vào quẻ Khảm, Đông y cho rằng Mệnh Môn Hỏa nằm giữa hai quả thận.
Bài thuốc Bát Vị Quế Phụ để bổ Mệnh Môn Hỏa là bổ cho hào Dương ở giữa hai hào Âm của quẻ Khảm, là bổ Hỏa trong Thủy, là bổ một Hỏa ở giữa hai Thủy. Như tôi đã bàn về Thận Thủy và Thận Hỏa ở quyển Mạch Lý Cơ Trung, Mệnh Môn Hỏa là tủy thượng thận, và Thận Thủy chính là vỏ thượng thận. Toàn nang thượng thận, cả vỏ và tủy là hình thù quẻ Khảm.
 
Bài Lục Vị bổ cho vỏ thượng thận.
Bài Bát Vị bổ cho tủy thượng thận, tức là bổ Hỏa trong Thủy. Muốn bổ Hỏa trong Thủy phải đi qua Thủy cho nên Quế Phụ của bài Bát Vị phải mượn sức Lục Vị để dẫn qua qua vỏ mà vào tới tủy. Như vậy bài Bát Vị vừa bổ cho Hỏa vừa giúp cho Thủy; bài Lục Vị bổ cho Thủy để quân bình với Hỏa, để Thủy mạnh lên nén Hỏa xuống. Tưởng rằng Lục Vị phạt Hỏa mà kỳ thực bảo tồn cho Hỏa bằng cách không cho Hỏa thao tước mất đi. Như vậy, theo Dịch Lý, bổ Hỏa thì tự nhiên giúp cho Thủy; bổ Thủy tự nhiên giúp cho Hỏa. Thủy Hỏa là Âm Dương luôn luôn có tác động hỗ tương. Trong Tây y, chất Cortisol ở vỏ thượng thận kích thích tăng hoạt Adrenalin và Noradrenalin … Chứng liệu đó cho biết Lục Vị bổ Thủy mà còn giúp cho Hỏa nữa.
Ở trên tôi bàn tới Thủy và Hỏa của Mệnh Môn Hỏa, cả Thủy lẫn Hỏa đã nằm trong biểu tượng quẻ Khảm. Nay tôi bàn tới Quân Hỏa (cổ nhân gọi là Tâm Hỏa). Y dịch dùng quẻ Ly tượng trưng cho Tâm Hỏa tức Quân Hỏa. Theo Ngũ Hành, Tâm thuộc Hỏa, Dịch Lý thì Ly thuộc Hỏa. Do đó, quẻ Ly biểu thị cho Tạng Tâm. Đông y, đặc biệt Hải Thượng cho rằng quẻ Ly có một hào Âm được bọc bởi hai hào Dương. Hào Âm ở giữa tượng trưng cho chân Âm, bổ chân Âm là bổ vào hào Âm. Tâm có huyết, huyết là hào Âm trong quẻ Ly. Tôi đã dùng cơ thể học cũng như sinh lý học Tây y để bác thuyết Quân Hỏa tức Tâm Hỏa của cổ nhân, và lập luận rằng Quân Hỏa tức Hỏa của tuyến Giáp trạng, là chất Thyroxine của tuyến giáp trạng. Như vậy, có thể dùng quẻ Ly để biểu thị cho Quân Hỏa là tuyến giáp trạng được không? Điểm đó không quan trọng (tuy nhiên để dọc quẻ Ly vẫn có hình thù tuyến giáp trạng) chỉ biết rằng quẻ Ly thuộc Hỏa, thuộc Dương có Âm lẫn vào. Không Âm nào không có Dương, không Dương nào không có Âm. Trừ Kiền và Khôn chỉ là ý niệm tuyệt đối, toàn Dương hoặc toàn Âm.
Sự kết hợp giữa Ly và Khảm có hai cách để thành hai quẻ:
1.   Thủy Hỏa Ký Tế (Thủy ở trên Hỏa ở dưới)
2.   Hỏa Thủy Vị Tế (Hỏa ở trên Thủy ở dưới).
Thủy Hỏa Ký Tế, ý nói Thủy Hỏa đã làm xong việc. Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế gồm Khảm Thủy ở trên và Ly Hỏa ở dưới. Người xưa giải thích lửa ở dưới để đun được nước sôi, xong việc.
Hỏa Thủy Vị Tế, ý nói Thủy Hỏa chưa làm xong việc. Quẻ Vị Tế Thủy Khảm ở dưới và Ly Hỏa ở trên. Hỏa trên mặt nước là Hỏa vô dụng.



(Quẻ Thủy Hỏa ký tế) xem hình.

Thủy Hỏa Ký Tế là một quẻ trong Dịch Học, Thủy là Khảm nằm trên. Hỏa là Ly nằm dưới tượng trưng cho việc đã làm xong. Quẻ Ký Tế cũng như mọi quẻ khác, tùy cách sử dụng và cách diễn dịch trong nhiều lãnh vực khác nhau. Riêng đối với Đông y, quẻ Ký Tế được sử dụng để diễn dịch phương pháp trị liệu về Thủy Hỏa trong cơ thể:
-   Bảo rằng Khảm thuộc Thủy phải đi lên, Ly thuộc Hỏa phải đi xuống – Hỏa phải giáng xuống, Thủy phải nâng lên với ý nghĩa Thủy Hỏa tương giao. Điều đó đúng.
-   Bảo rằng Khảm thuộc Tướng Hỏa phải đi lên, Ly thuộc Tâm Hỏa phải đi xuống, có như vậy Tâm Hỏa (Quân Hỏa) và Thận Hỏa (Tướng Hỏa) mới tương giao cũng rất đúng.

-   Bảo rằng dùng bài Bát Vị Quế Phụ để dẫn Hỏa quy nguyên (về đúng nguồn gốc), có nghĩa đem Hỏa về Mệnh Môn Hỏa – Hỏa nằm trong quẻ Khảm – Hỏa nằm trong Thủy. Dựa vào Ký Tế, tôi không đồng ý lý luận đó. Quẻ Khảm tượng trưng cho Thủy Hỏa vô hình (Tiên Thiên). Quẻ Ly là Quân Hỏa vô hình. Hai quẻ hợp lại thành quẻ Ký Tế. Bài Bát Vị Quế Phụ chữa theo lý của quẻ Ký Tế (để Tâm Thận tương giao) thì quy nguyên không chỉ riêng cho Thận Hỏa mà còn cho cả Quân Hỏa nữa.

Khí Huyết
Đối với Đông y, sau Thủy Hỏa là Khí Huyết. Đông y bảo Thủy Hỏa quan trọng, thuộc Tiên Thiên, Khí Huyết thuộc Hậu Thiên. Nghĩa rằng có Thủy mới có Huyết, có Hỏa mới có Khí. Thủy Hỏa sinh ra Khí Huyết; lại bảo rằng bệnh nhẹ thì chữa về Khí Huyết, bệnh nặng thì chữa về Thủy Hỏa. Điều đó rất hiển nhiên.
Tuy vậy, Huyết là gì? Khí là gì? Và tương quan giữa Khí Huyết như thế nào thì Đông y đã nói rõ theo ngôn ngữ Đông y. Đông y bảo Khí là Dương, Huyết là Âm. Khí thuộc Tỳ và Phế. Huyết thuộc Can và Tâm. Đông y có quan niệm bổ Khí có thể thêm cho Huyết (sinh Huyết). Bổ Huyết không thể giúp cho Khí (không sinh ra huyết…). Thêm nữa, thuốc bổ Khí nên có Huyết như vị Đương Qui (bổ Huyết) trong bài Bổ Trung Ích Khí. Thuốc dưỡng Huyết phải có những vị mang khí tính như vị Xuyên Khung trong bài Tứ Vật.vv…
Khí là Dương, Huyết là Âm. Vậy Khí với Dương và Huyết với Âm có đồng tính đồng đẳng hay không? Tôi nghĩ là không. Khí với Huyết thì Khí là Dương, nhưng khí với Dương thì Khí là phần động của Dương. Dương là thể, khí là dụng. Khi ta yên nghỉ mà mặt mũi đầy đủ khí sắc, đó là một phần hoạt động của Khí trong cái Dương tiềm tàng trong cơ thể. Khi ta dùng đến sức mạnh thể xác hoặc tinh thần thì phần Khí động mạnh trong ta còn phần Dương đang dần dần tiếp sức cho phần Khí. Dương là kho dự trữ của Khí. Chữa bệnh về Khí phải cho thông khí như: Trần bì trong bài Bổ Trung.
Chữa Dương phải tàng Dương như bài Tứ Quân hay bài Cứu Dương.
Huyết đối với Khí thì Huyết là Âm, nhưng Huyết đối với Âm thì Huyết là phần động của Âm. Âm là thể, Huyết là dụng. Âm bao gồm những Âm chất như Thủy dịch nội ngoại bào v.v… kể cả Huyết nữa.
Chữa Huyết, huyết phải động như Xuyên Khung, Đương Qui. Chữa âm, âm phải tịnh như Thục Địa, Sơn Thù, Hoài Sơn.
Lúc ta nằm ngủ yên tịnh thì thuộc về Âm mà Huyết vẫn chảy trong cơ thể. Huyết chảy được trong cơ thể là nhờ khí lực của tim bóp, nhờ tính cường cơ, cường huyết quản.v.v… mà chảy được. Tim bóp, tính cường quản, cường cơ đều thuộc về Khí, và những cái thuộc về Khí đều nhờ Huyết mang thức ăn và dưỡng khí (O2) tới mà đủ khí để làm việc. Như vậy Khí Huyết phải có nhau như Âm với Dương vậy. Mất Khí thì Huyết chết, thiếu Huyết thì Khí cũng chết. Khí Huyết tồn tại cho nhau và vì  nhau.
Ở trên, chúng ta sơ lược về Khí Huyết theo quan niệm của Đông y. Cũng theo quan niệm đó, Đông y đã dùng dược liệu trị bệnh về Khí Huyết rất hiệu quả. Phải nhận rằng quan niệm và Khí Huyết của Đông y rất đúng. Tuy nhiên, quan niệm và ngôn ngữ đó khó phổ cập ở thời đại chúng ta. Nay, chúng ta phải dùng ngôn ngữ khoa học để tiếp tục sự nghiệp cổ nhân bàn về Khí Huyết.
Khí.
[…]
Như vậy, tất cả mọi thức ăn đều có thể sản xuất năng lượng. Năng lượng được dự trữ dưới dạng ATP (Adenosine Triphosphate) và được sử dụng nhiều hay ít tùy phản ứng hóa học hay vật lý nhiêu hay ít trong cơ thể nghĩa là tùy mức độ biến dưỡng mạnh hay yếu của cơ thể lúc làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi (biến dưỡng căn bản). Biến dưỡng mạnh bao nhiêu thì năng lượng được sử dụng nhiều bấy nhiêu. Năng lượng sử dụng nhiều bao nhiêu thì nhiệt độ cơ thể tăng bấy nhiêu, vì nhiệt lượng hao phí (không dự trữ) đã đành, còn do chính các phản ứng biến dưỡng tạo ra.
Để kết luận, điều mà Đông y gọi là Khí chính là ATP. Khí có hai loại: Khí đang sử dụng là ATP đang phóng thích 8.000 calories để được sử dụng và Khí đang được dự trữ là ATP đang tiềm ẩn trong các tế bào chưa được sử dụng, chính là Dương đang tiềm ẩn. Tất cả đó là khí lực của con người nói riêng, và Dương tính con người nói chung. Khí là phần động của Dương. Phần động của Dương chính là ATP đang sử dụng.
Khí mà được bàn ở trên là năng lượng do thức ăn cung cấp, do con người chọn lựa mà thành. Khí đó hoàn toàn khác hẳn năng lượng của vũ trụ ảnh hưởng đến con người hàng ngày hàng phút. Năng lượng vũ trụ mà Đông y thường nói gồm sáu khí: Thái Âm, Thiếu Âm, Thái Dương, Thiếu Dương, Dương Minh và Quyết Âm.
(P/S: Chất ATP là năng lượng dự trữ trong các tế bào và được sử dụng trong mọi hoạt động của từng tế bào nói riêng và toàn cơ thể nói chung như hô hấp, tiêu hóa, tuần hoàn, bài tiết.vv… Bất cứ một hoạt động nhỏ nào của cơ thể đều cần đến năng lượng ATP, dầu là một nụ cười hoặc một liếc mắt thôi cũng cần tới ATP…)
Huyết.
[….]
Nhu cầu dưỡng khí
Dưỡng khí cần thiết cho sự sống. Điều đó ai cũng biết, không dưỡng khí thì chết. Tuy nhiên, cần để làm gì, và cần như thế nào thì nhiều người chưa hiểu rõ.
Cơ thể cần Oxygen để đốt cháy thức ăn để tạo năng lượng ATP, tức để tạo khí. Ngoài ra oxygen còn giúp cơ thể đốt cháy acid lactic để tạo năng lượng. Nếu không đủ oxygen thì acid lactic tồn tại lâu trong cơ thể, trong khớp xương, trong bắp thịt làm chúng ta đau mỏi, có khi nhức nhói phải nhờ đến tẩm quất (massage) để máu huyết lưu thông mới hết bệnh, bởi lẽ lúc máu huyết lưu thông mang oxygen đến chỗ đau nhức, tiêu hóa được chất acid lactic thì hết đau mỏi. Nhiều động tác thể dục làm các khớp xương kêu răng rắc, chúng ta cảm thấy khoan khoái vì rằng khớp xương do hai xương tiếp cận nhau, có khi tạo thành hình thức của một lỗ chân không (vacuum), máu không vào được, khi khớp xương kêu răng rắc là khi lỗ chân không hở ra, máu mang theo oxygen thừa thế chảy vào rửa sạch hoặc tiêu hóa chất acid lactic.
Sau khi chúng ta tập thể dục thể thao, hoặc làm việc nặng nhọc chúng ta thở hổn hển. Đó là do cơ thể đòi hỏi oxy để đốt cháy thức ăn tạo năng lượng thay thế năng lượng đã mất đi trong lúc lao tác nặng nhọc và cũng để oxy hóa (đốt cháy), acid lactic được sản xuất trong lao tác cần tới năng lượng kỵ khí (anaerobic) khi oxygen không được cung cấp đầy đủ bởi hô hấp.
Qua những điểm trình bày về huyết ở trên, chứng tỏ huyết là một mô rất quan trọng cho sự sống. Không huyêt, không có miễn nhiễm tự nhiên. Không huyết, không có sự chuyên chở thức ăn đến tế bào. Không huyết, không có sự đào thải chất cặn bã. Không huyết, không có huyết sắc tố chuyên chở dưỡng khí (O2) để đốt cháy thức ăn tạo năng lượng ATP – khí lực của cơ thể, và cũng không đào thải được thán khí (CO2). Không huyết là không có sự sống.
Sơ lược hiểu biết về Huyết học Tây phương, so sánh với ý niệm của Đông y về huyết, mặc dầu chỉ có tính cách lý thuyết và kinh nghiệm, tầm quan trọng của huyết không khác nhau là mấy.

Áp dụng ngũ hành vào lục phủ, ngũ tạng
[…]
Tương quan giữa Tỳ và Phế
Khi còn nằm trong bụng mẹ, qua thai bàn (nhao), thai nhi được nuôi dưỡng bởi thức ăn từ máu của mẹ, kể cả dưỡng khí (O2). Nếu chỉ có thức ăn mà không có dưỡng khí để đốt thức ăn thành năng lượng thì thai nhi sẽ chết. Khi hài nhi lọt lòng mẹ, tiếng khóc đầu tiên báo hiệu phổi của hài nhi bắt đầu hô hấp, bắt đầu lấy dưỡng khí một cách độc lập khỏi máu mẹ. Đời sống sinh lý của hài nhi bắt đầu độc lập. Với thức ăn từ sữa mẹ đầy đủ thịt, đường và mỡ, Tỳ của hài nhi tiết các chất phân hóa tố để tiêu hóa thức ăn, một mặt phổi của hài nhi cung cấp dưỡng khí để đốt thức ăn tạo thành năng lượng cho sự sống. Ngoài ra Tỳ còn tiết kích thích tố Insulin và Glucagon để điều hòa lượng đường trong máu. Chính nhờ dưỡng khí (O2) từ phổi mà đường (Glucose) được đốt cháy để tạo thành năng lượng dưới dạng ATP (Adenosin Triphosphore).
Với lý lẽ như trên, Tỳ không Phế thì không có sự sống. Phế không Tỳ cũng không có sự sống. Tỳ với Phế có quan hệ mật thiết – Thổ với Kim có quan hệ mật thiết. Ngoài ý nghĩa sinh lý học, chúng ta có thể hỏi tại sao tạo hóa không thay thế “tiếng khóc chào đời bằng tiếng cười chào đời”, cười lớn cũng nở phổi vậy.!?  Grin Cheesy
[…]
Tương quan giữa Phế và Thận
Trong cơ thể vấn đề quân bình kiềm/toan (Acid/base balance) rất quan trọng. Theo tôi, quân bình kiềm/toan đối với Tây phương tương tự quân bình Âm Dương Thủy Hỏa của Đông y vậy. Quân bình kiềm/toan luôn luôn dựa vào nồng độ H+ tức pH trong cơ thể. pH phải luôn luôn bằng 7.4 (pH=7.4). Nếu pH < 7.4 là acid quá (toan quá) hoặc kiềm quá (nếu pH > 7.4) đều hại cho sự sống. Vì vậy trong cơ thể có hai cơ chế điều hòa kiềm/toan là: Hệ thống chất đệm (Buffer) và Phế (phổi) với Thận.
-   Hệ thống chất đệm rất phức tạp, tôi chỉ đơn cử ở đây về Carbonic Acid (H2CO3) do kết hợp giữa thán khí (CO2) và nước (H2O)
H2O + CO2 --> H2CO3
Lúc H2CO3 bị phân ly sẽ cho H +  và HCO3 (Bicarbonate). HCO3 là kiềm, H+ là Acid. Quân bình giữa H+ và HCO3 là quân bình kiềm/toan (acid/base).
-   Phế và Thận: Giúp nhau quân bình kiềm/toan. Trong biến dưỡng sự đốt cháy thức ăn để tạo năng lượng luôn luôn tạo ra nhiều CO2. Vì CO2 + H2O --> H2CO3 là acid. Nếu acid quá phế phải thở nhiều, đào thải CO2 làm giảm acid để quân bình với kiềm. Nếu vì một lẽ gì phổi yếu không thải đủ CO2 cơ thể trở nên acid thì thận phải giúp phổi thải H+ tức thải acid qua nước tiểu nhờ sự phân ly của carbonic acid bởi phân hóa tố Anhydrase.
H2CO3 --> HCO3 + H+
Thận vừa thải H+ vừa tái hấp thụ HCO3. Nhờ vậy mà kiềm/toan được quân bình. Trong trường hợp kiềm quá thì phổi phải bớt thở để giữ lại CO2 hoặc thận giúp phổi bằng cách giữ lại H+ để Acid  tăng bằng kiềm, làm thế nào để pH = 7.4 là được. Như vậy, tương quan giữa tạng Phế - Kim và tạng Thận – Thủy cực kỳ mật thiết trong việc điều hòa Âm (base) Dương (acid), chưa kể tới vấn đề Angiotensin cũng liên quan đến phế và thận.
Trong phần Âm Dương Tân giải, tôi phân định Base là Âm, Acid là Dương. Trong cơ thể, dạ dày có độ acid rất cao, pH = 2, tiểu trường có độ acid thấp, có nghĩa độ base cao pH=8.
Trong vấn đề trị liệu, Hải Thượng bảo: “Mửa nhiều mất dương, tiêu chảy mất âm. Nếu mửa nhiều quá cũng mất âm, tiêu chảy nhiều quá cũng mất dương”. Hải Thượng phát biểu đúng. Mửa nhiều mất acid trong dạ dày (mất dương), mửa nhiều nữa nước từ trong ruột non (thập nhị chỉ tràng) lên dạ dày trào ra đằng miệng làm mất luôn Bicarbonate từ Thập nhị chỉ tràng (đoạn đầu của ruột non) – mất âm.
Tiêu chảy làm mất Bicarbonate – mất âm trong ruột. Tiêu chảy nhiều quá nước và acid từ dạ dày xuống ruột đi ra ngoài, do đó mất luôn cả acid – mất dương. Đời Hải Thượng chưa có Hóa học và Sinh lý học, tuy nhiên Ngài biết được nhờ triệu chứng mất âm hoặc mất dương.

[…]
Tương quan giữa Can và Thận
Gan là nơi vừa chế biến vừa dự trữ thức ăn cho cơ thể lại là nơi phá hủy những chất đã được sử dụng và đã bị cơ thể đào thải như Ammonia (NH3)  được gan tổng hợp để thành Ure qua thận thải ra nước tiểu.
Các loại kích thích tố sau khi sử dụng được gan phá hủy và các loại vi trùng hoặc tế bào chết được tế bào Kupffer của gan tiêu hủy cũng đều theo thận thải ra nước tiểu. Ngoài ra gan và thận cùng nhau cộng tác sản xuất và hoạt hóa vitamin D (quan trọng cho việc tạo thành xương) giúp ruột hấp thụ Calcium cũng như chât Angiotensin là do gan và thận trực tiếp sản xuất và hoạt hóa để giúp huyết áp tăng lúc quá thấp. Tất cả trên chỉ là tương quan giữa tạng Can và tạng Thận (2 quả thận) chưa kể tới Thận Thủy vô hình đối với Tạng Can. Với sức làm việc của Can trong 1 phút = 500 phòng thí nghiệm làm trong 1 giờ thì sự tỏa nhiệt của Can sẽ rất lớn. Nếu không có Thủy hữu hình do Thận Thủy vô hình (Thủy tiên thiên – vỏ thượng thận) làm sao có thể giảm được nhiệt của Can. Đó là tương quan mật thiết giữa Thận Thủy và Can Mộc.
[…]
Tương quan giữa Can và Tâm
Tim là một cái máy bơm máu, hút máu đen về để lược lọc sạch ở phổi và hút máu đỏ từ phổi về tim. Từ đó bơm máu đi nuôi cơ thể. Máu đen được hút về tim phải (tâm nhị phải) qua xoang tĩnh mạch trên (Veina Cava Superior) và xoang tĩnh mạch dưới (Veina Cava Inferior). Xoang tĩnh mạch dưới nhận máu đen nửa phần dưới cơ thể. Máu này 90% là từ ruột chảy vào tĩnh mạch cửa (Portal Vein), trong máu chứa nhiều vi trùng từ ruột, đặc biệt là ruột già. Từ tĩnh mạch cửa, máu chảy vào gan qua hệ thống lọc của gan là những tế bào Kupffer. Tế bào Kupffer là những thực bào (Macrophage) và ẩm bào (Phagocyter) tiêu diệt vi trùng. Nhờ vậy máu về tim không bị nhiễm trùng. Ngoài công việc làm sạch máu, quan trọng hơn, gan là nơi dự trữ máu khoảng 350 ml – 500 ml phòng khi tim không đủ máu để bơm đi nuôi cơ thể trong trường hợp lao tác hoặc bị xuất huyết. Như vậy, sự liên hệ giữa Can Mộc và Tâm Hỏa rất mật thiết trong vấn đề điều hòa lượng máu trong cơ thể.
[…]
Thủy Hỏa Tiên Thiên với Ngũ Hành
Trong ngũ hành chỉ có một hành Thủy là Thận Thủy và hành Hỏa là Tâm Hỏa. Vậy Thủy tiên thiên và Quân Hỏa cùng Tướng Hỏa ở đâu?.
-   Hành Thủy: Tạng Thận không phải là Thủy, không tạo ra Thủy mà chỉ là nơi ra vào của Thủy. RA, khi đào thải, VÀO, khi tái hấp thụ. Và nhờ vào động mạch thận mà ta biết được Thủy hữu hình, từ đó biết được Thủy vô hình – Thủy tiên thiên. Tạng thận biểu thị cho Thủy, Thủy tiên thiên thật sự là Hành Thủy (vỏ tuyến thượng thận)
-   Hành Hỏa: Tạng Tâm không phải là Hỏa, không tạo ra Hỏa. Tuy vậy nhờ vào tạng Tâm mà biết được Hỏa. Tâm đập mạnh là Hỏa vượng; Tâm đập yếu là biết Hỏa yếu. Tâm đập mạnh hay yếu là tùy vào Tướng Hỏa và Quân Hỏa. Tâm biểu thị cho Hỏa. Hỏa tiên thiên (Quân Hỏa – Tuyến giáp và Tướng Hỏa – Tủy tuyến thượng thận) mới thật sự là Hành Hỏa.

Hỏa Tiên Thiên với Vị Thổ và Tỳ Thổ
Đông y bảo Hỏa sinh Thổ. Trong cơ thể có 2 Hỏa là Tâm Hỏa tức Quân Hỏa và Thận Hỏa tức Tướng Hỏa với 2 Thổ là Vị Thổ và Tỳ Thổ. Vậy Hỏa nào sinh Thổ nào? Khi bàn về Ngũ Hành sinh khắc tôi đã nói đến Tương Sinh là Thuận chuyển, Tương khắc là cực bất cập (Âm khắc Dương) và cực thái quá (Dương khắc Âm). Trong khi xét về Thuận chuyển, chẳng những Thuận chuyển mà còn tương quan mật thiết trong tác động hỗ tương như tôi đã bàn tới tương quan giữa các tạng như Tỳ và Phế, Phế và Thận…
Riêng Hỏa của Tâm Thận và Thổ của Tỳ Vị thì Đông y bảo Tâm Hỏa sinh Vị Thổ, Thận Hỏa sinh Tỳ Thổ. Nếu hiểu sinh theo nghĩa kích thích, xúc tác, hoặc hỗ tương thì lời phát biểu của Đông y đúng.
Trong thiên Thủy Hỏa, lúc bàn về Hỏa tôi khẳng định Tâm Hỏa hoặc Quân Hỏa là Hỏa của Tuyến Giáp trạng. Hỏa này giúp cơ thể biến dưỡng căn bản trong lúc nghỉ ngơi cũng như trong lúc ngủ. Trong lúc nghỉ ngơi hoặc ngủ thì tim vẫn đập, phổi vẫn thở, dạ dạy (vị) và ruột vẫn co bóp, vẫn làm việc. Công việc đó phải nhờ Thyroxine tức Hỏa của Tuyến giáp trạng giúp đỡ mới thực hiện được. Tâm Hỏa sinh Vị Thổ là như vậy.
Còn Tỳ là Tụy tạng chỉ tiết nhiều phân hóa tố (Enzyme) và kích thích tố (Hormone) khi thức đặc biệt lúc ăn uống. Ăn uống, làm việc và suy tư,.vv… đều là những hình thức chiến đấu. Lúc chiến đấu thì Tướng Hỏa làm việc mạnh mẽ để tiết chất Adrenalin, giúp sức cho cơ thể có nhiều năng lượng. Nhờ năng lượng đó Tụy tạng tiết được kích thích tố và phân hóa tố. Thận Hỏa hoặc Tướng Hỏa sinh Tỳ Thổ trong ý nghĩa đó.
 
Tương quan giữa các Phủ.
Tạng Tỳ tương quan với Tạng Phế thì phủ Vị tương quan với phủ Đại Trường. Vị không có Đại Trường thì lấy gì để truyền tống cặn bã. Tạng Phế tương quan với Tạng Thận thì thì phủ Đại Trường tương quan với phủ Bàng Quang, vì hai bên hỗ tương nhau truyền tống chất dơ bẩn ra ngoài, một bên thể lỏng và một bên thể đặc. Tạng Tâm tương quan với tạng Can thì phủ Đởm tương quan với phủ Tiểu Trường. Mật tiết vào Tiểu trường để tiêu hóa thức ăn, đặc biệt mỡ và được tái hấp thụ qua ruột tạo thành chu kỳ gan ruột.
Tạng Tâm thuộc Hỏa có phủ Tiểu Trường, Tỳ Thổ có phủ Vị… Do đó, Vị tương quan với Tiểu Trường (Dạ dày và Ruột non)

 2 
 vào lúc Tháng Sáu 15, 2019, 10:51:44 PM 
Tác giả TamDao - Bài mới nhất gửi bởi TrieuTuLong
Nhiều Ngài Latma Tây Tạng khi chết, họ cũng để lại nhục thân dưới hầm bí mật sâu dưới lòng đất...Thầy Tibu kiếp tu hành (chưa thành tựu) trước đây cũng có để lại một nhục thân (ở chùa Đậu)...

Để lại một thân xác trên quả địa cầu này, theo tui là có lý do (các Ngài này làm việc gì cũng có lý do), là để ở lại tiếp tục làm việc... 😅

Cái khác là Thầy Thông Lạc là người đã tu xong (A La Hán), thì thiệt là khó hiểu 😂

 3 
 vào lúc Tháng Sáu 15, 2019, 08:35:14 PM 
Tác giả hphan77 - Bài mới nhất gửi bởi hphan77
hp vừa lái xe về thăm Ba Má. Trên đường về, hp có Niệm Phật Quán Chấm Đỏ và hồi hướng cho Má. Và chấm đỏ thì đỏ và sáng hơn giờ hết. Mỗi lần quán và hồi hướng xong thì tâm hp thoải mái không có cảm giác nặng nề hay buồn lo. hp không biết điều đó tốt xấu ra sao nhưng cũng không muốn đoán chỉ biết ráng ATCNTM rồi hồi hướng cho Má.

Ba thì được Bác Sĩ cho xuất viện về hiện tại thì đang ngủ nghĩ ở nhà. Riêng Má thì vẫn còn trong bệnh viện và được đưa qua ICU nằm. Vô thăm Má thì hp thấy không nặng nề và có cảm giác là Má mừng vì biết hp về thăm nhưng sức khỏe Má không đủ để nói chuyện hay cử động. Nhưng đó chỉ là cảm giác của hp. Mong các Nhí giúp giùm! Mong các đạo hữu cho hp xin 1 phần hồi hướng công đức cho Má của hp!

hp cảm ơn và chúc mọi người tiếp tục những ngày cuối tuần vui vẻ!
hp cáo chình.

 4 
 vào lúc Tháng Sáu 15, 2019, 12:08:29 PM 
Tác giả hphan77 - Bài mới nhất gửi bởi hphan77
Ba và Má của hp vừa bị tai nạn xe. Ba thì coi như tạm ổn, Má thì bị chấn thương sọ não và bác sĩ nói là Má trong tình trạng không mấy lạc quan. Kính nhờ các Nhí canh dùm Má. Nếu thấy không xong thì nhờ các Nhí đưa Má về với đức A Di Đà dùm.!!

Ba tên Phan Như Bình, Má tên Nhữ Thị Nam Út. Hiện 2 người đang trong ER bệnh viện St. Josphep, thành phố Tampa, Florida.

Còn người lái xe bên kia đã qua đời tại nơi tai nạn. Con không biết tên cũng xin các Nhí độ cho người này được vãng sinh về cõi ngài A Di Đà.

Cảm ơn các Nhí nhiều!

 5 
 vào lúc Tháng Sáu 15, 2019, 07:49:42 AM 
Tác giả Dzo - Bài mới nhất gửi bởi Dzo
Xin nhờ các Bồ Tát Nhí canh chừng dùm Ông Bố vợ của Dzo tên là Trần Long sinh năm 1937.
Xin cảm ơn rất nhiều!
Xin nhờ các Bồ Tát độ tử giúp cho Ông.
Xin cảm ơn nhiều!

 6 
 vào lúc Tháng Sáu 15, 2019, 07:12:35 AM 
Tác giả TamDao - Bài mới nhất gửi bởi gacon177
Em chào anh @khanhkhoa,

Em cũng đang nghe pháp âm chủ đề Rong Rêu, nên xin chia sẻ với anh khanhkhoa sự hiểu của mình đối với bài pháp âm về Ngài Anan, đoạn có nhắc đến thầy Thông Lạc.

Đoạn anh khanhkhoa thắc mắc bắt đầu từ phút thứ 27 của bài pháp âm: Thầy Tibu đang nói đến chuyện khi Thầy Thông Lạc chết có dặn học trò là chôn thay vì làm theo mẫu mã của ông Thầy mình - Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là hoả thiêu. Nghe đoạn này thì em hiểu Thầy Tibu nói cách thầy Thông Lạc sử lý thân xác sau khi chết giống quan điểm của mấy ông Tiên do có sự chấp tướng trong đó chứ không phải nói Thầy Thông Lạc là một ông tiên vì thầy Tibu đã nói nhiều lần từ trước Thầy Thông Lạc là một vị A La Hán.

Đọc các bài anh khanhkhoa viết, em thấy anh là người thiên về logic, khoa học thì chắc hẳn anh đã nghe đến Coaching (Khai Vấn) và EI - Emotional Intelligence (Thông minh cảm xúc). Khai Vấn hiểu nôm na là cách dùng những câu hỏi để mình tự vấn bản thân, từ đó có thể xác định đúng điều mình muốn, mình cần, hướng đi đúng đắn cho chính mình. Trong Khai Vấn đặc biệt chú trọng về thông minh cảm xúc để điều chỉnh cảm xúc một cách có ích nhất. Trong trường hợp này, anh có thể dùng các câu hỏi dưới đây để điều chỉnh óc quan sát, trí tò mò của mình.

- Sự việc này/ con người này giúp mình học hỏi được gì? Nó gây cho mình cảm xúc gì?
- Sự việc này có ý nghĩa gì? Bài học mình rút ra sau chuyện này?

Em có đọc bài của thầy viết về Thầy Thông Lạc từ trước, em cảm thấy không học hỏi được mấy từ Thầy Thông Lạc và nó không tác động đến em trong quá trình em tốt lên hay nói cách khác là trưởng thành về mặt nhận thức và tâm linh. Do vậy, em không để ý hay tìm hiểu nhiều về Thầy Thông Lạc thời gian sau mà chỉ tập trung đọc các bài viết trao đổi của Thầy Tibu, nghe pháp âm và thực hành theo đó. Đến nay cũng được 5 năm, thì em thấy bản thân mình có sự tiến bộ, ít nhất là về mặt tính tình: hiền hơn, ít nổi nóng hơn xưa.

Có lẽ em là người thấm nhất khi đọc bài chị brightmoon viết dưới đây vì trước đó em đọc nhiều sách của các vị Thầy bên Tây Tạng, tuy đọc thấy rất hay, lôi cuốn, bản thân em cũng rất ngưỡng mộ, trân trọng những vị ấy nhưng lại học được rất ít từ họ. Điều duy nhất rút ra được từ những cuốn sách, vị thầy ấy là: họ vô cùng trân trọng cơ hội được gặp những vị giác ngộ, họ quyết tâm cao độ để đi tìm những vị ấy dù có phải vượt bao khó khăn về vật chất, địa lý,... Rồi khi gặp, được trao đổi với vị Giác Ngộ thì khắc cốt ghi tâm lời giảng của các vị và làm theo, thực hành suốt đời.

Thầy TL hay vị thầy xa tận chân trời nào thì cũng giống như mình đọc sách dậy làm giàu của Warren hay Bezos thôi. Thứ nhất vì họ ở quá xa mình, thứ 2 là sách thì cũng chỉ là sách, mình biết họ giàu nhưng ấy cũng không phải tiền của mình. Cho nên mình biết họ giàu và chấm hết. Giàu trong đạo nó khác với cái giàu thế gian, nhưng so sánh như vậy để mọi người hiểu.

Còn có một vị thầy ngay bên cạnh, mình học hàng ngày từ những điều giản dị. Đó chính là vị thầy của mình. Không phải là mình không tôn trọng những ng thầy khác, mà họ chẳng có chút mối liên hệ nào với mình, thì cái mình đọc về họ thì cũng như đọc rồi thôi. Nhưng cái mình sống, chứng kiến và làm cùng với ngươi thầy ở cạnh mình, mới là cái đáng quý, quý vì nó nhỏ nhặt nhưng có ý nghĩa lâu bền.

Kết luận: 1 là gần hẳn; 2 là bao quát hẳn như Thầy Thích Ca. Mỗi người cứ chọn cho mình một người cho đáng làm thầy; còn không nên ở hstd mà hỏi về thầy nọ thầy kia làm gì, mất sức mất thời gian mà cũng không cần thiết.



Đối với anh khanhkhoa ai là vị Thầy kề cận? Ai là người anh có thể tu theo phương pháp để giác ngộ?


Khi đã có câu trả lời cho những câu hỏi trên thì mình nên tập trung vào học, làm theo những gì tốt đẹp vị ấy đã thực hành, đã chứng ngộ để tích kiệm thời gian, công sức Smiley


Cảm ơn anh đã dành thời gian đọc chia sẻ của em Cheesy

 7 
 vào lúc Tháng Sáu 15, 2019, 01:04:30 AM 
Tác giả TamDao - Bài mới nhất gửi bởi khanhkhoa
Trích dẫn
Đệ thắc mắc thầy Thích Thông Lạc là ông tiên như cuối bài pháp âm huynh Tibu nói hay thầy là A La Hán?  Có thể vừa là A La Hán và vừa là Tiên được không?
Nghỉ cũng ngộ lắm à nha!
Mỗi lần diễn đàn có sự tranh luận thì không bao giờ thấy ông Khanhkhoa, nhưng nếu tranh luận nào mà chỉa về THẦY của tui là có ông Khanhkhoa này tham gia "đặc câu hỏi" một cách rất là "ngây ngô" vô số tội hớ !

Chơi vậy chán ! Làm người trả lời cũng cục hứng, vì hỏi dở quá. NB tui chê ông đó Khanhkhoa.


Chờ hồi âm của huynh Tibu nhưng chẳng thấy.  Chán ông nội Nhà binh này ghê.  Câu hỏi hay nhưng bị ông thần thích chiến tranh này làm mất hứng.

Chánh Tín là lòng tin do nghe pháp và hiểu rõ ràng.  Tà Tín là lòng tin không có căn cứ, chưa có tính logix giữa các hiện tượng mà vần cứ tin.  Nghe gì hay và lạ cũng tin theo mà không cần suy tư kiểm nghiệm.  Đó là Tà Tín.  Có thắc mắc cứ hỏi.  Không có câu hỏi nào là dỡ.  Chỉ có người không chịu hỏi mà cứ tin đại hoặc làm biếng không chịu tìm hiểu thì mới thật là dỡ.  Đây là những cô tư thím bảy cậu sáu chỉ thích hành xử theo cảm tính và mê tín mà quên rằng Phật Giáo như một môn khoa học cần phải nghiên cứu và thực nghiệm.

Huynh Tibu là Bồ Tát nên mới có người chỉa.  Càng có người chỉa, càng có nhiều điều học hỏi.  Khi nào huynh lên chức bồ tát thánh tăng, mọi người sẽ chỉa đến huynh.  

Đây là bài trả lời của NB cho Khanhkhoa, và cũng là bài cuối NB viết cho Khanhkhoa:
1. Có những cái gọi là kiến thức thường thức, tức là sao: tức là khi một người được gọi là "giáo sư tiến sĩ" thì có thể nào mù chữ không? Alahan và tiên cũng vậy, hai người không thể là một. Khanhkhoa ông nên nghe lại cho kỹ.
2. ông anh có bao giờ thấy một người bác sĩ đi chửa bệnh mà khi chỉ ổng chỗ có bệnh nhân ... rồi ổng quay lưng bỏ đi không ? Nếu có thì ông đó không phải là ông tên Tibu. Cũng vậy với câu hỏi của Khanhkhoa, nếu vì bị NB "thọt" mà Ông Thầy tui không trả lời thì nó có hợp lý không?
3. Nếu như gọi là đàm luận hữu ích trên diễn đàn thì mỗi lần "xuất chiêu" phải có một cái ý kiến rõ ràng, một căn cứ, một khái niệm, hay một cái gì đó có ý nghĩa, để người bên kia biết được "tại sao" hay "như thế nào" mình nói vậy. Đằng này cứ "bà bảy bà tám" thì không hay nữa
4. Khanhkhoa theo dõi diễn đàn này khá sát mới biết được NB là thần chiến tranh, nhưng không hiểu vì sao không Khanhkhoa không đọc thêm về Ông Tibu để hiểu rõ hơn phong cách làm việc cách sống cũng như là những bài nói chuyện của Thầy tui, rồi suy nghĩ về những bài đó một chút, và quan trọng hơn là thử làm như Thầy tui thử coi thật hư lời Ông nói như thế nào có phải hữu ích hơn không ?

Nếu bài sau Khanhkhoa ông viết la NB mà hay, NB sẽ tranh luận tiếp! Grin

Huynh NB nên nghe và đọc lại cho kỹ.

Huynh Tibu viết rõ rằng thầy Thông Lạc là A La Hán.

Đồng thời trong bài pháp âm Huynh Tibu có nói thầy Thông Lạc là một Ông Tiên.

Nên mới có thắc mắc để hiểu rõ tại sao có chuyện kì lạ này của A La Hán.  Huynh có cần phải làm khó câu hỏi đơn giản vì những chuyện "Thầy của tui", thầy của ông?  Huynh phức tạp quá!


 8 
 vào lúc Tháng Sáu 14, 2019, 11:00:52 PM 
Tác giả hienthu - Bài mới nhất gửi bởi hienthu
 Cảm ơn Mun rất nhiều . Mình biết gia đinh mình không ai tin chuyện này . Mình một mình một  ngựa sẽ cố gắng tập cho ra để mục . Khó quá ... khó quá......

 9 
 vào lúc Tháng Sáu 14, 2019, 09:13:08 PM 
Tác giả bongsen - Bài mới nhất gửi bởi bongsen
[..]
Ngũ Hành Tương Sinh
Tương Sinh không có nghĩa là cái này đẻ ra cái kia, cái này sinh ra cái kia. Tương sinh có nghĩa yếu tố này là nguyên nhân của yếu tố kia, yếu tố này xảy ra trước yếu tố kia, hoặc giai đoạn này tiếp bởi giai đoạn kia, giai đoạn này chuyển tới giai đoạn kia. Sự tiếp nối đó thuận hướng tăng dần tiến dần theo chiều Dương, từ Thổ, Kim, Thủy, Mộc và sau cùng là Hỏa.
 
(xem hình h5)

Thổ sinh Kim (ý nghĩa thực là đất sinh ra kim khí), tượng trưng cho yếu tố bất động chuyển tới yếu tố co được, giãn được. Tượng trưng cho giai đoạn yên tĩnh chuyển tới giai đoạn có chút chuyển động, tượng trưng cho giai đoạn trung tính đến giai đoạn tìm thế kiến tạo năng lượng.
Kim sinh Thủy (ý nghĩa thực là kim khí chảy ra nước), tượng trưng yếu tố ở thể đạc và lỏng (thủy ngân) chuyển tới thể lỏng hoàn toàn. Tượng trưng cho giai đoạn bắt đầu chuyển động (co giãn) đến giai đoạn toàn toàn chuyển động, tượng trưng cho giai đoạn tìm thế kiến tạo năng lượng đến giai đoạn thực sự kiến tạo năng lượng.
Thủy sinh Mộc (ý nghĩa thực là nước sinh ra cây cỏ), tượng trưng cho sự vô cơ chuyển tới hữu cơ, từ vô sinh chuyển tới hữu sinh. Tượng trưng cho thể động tiêu cực, bị động đến thể động tích cực, tự động. Tượng trưng cho giai đoạn thực sự kiến tạo năng lượng đến giai đoạn tìm thế hoạt động.
Mộc sinh Hỏa (ý nghĩa thực là gỗ đốt thành lửa), tượng trưng cho sự tổng hợp (cây cỏ) chuyển đến sự sử dụng, bộc phát. Tượng trưng cho sự thăng phát sinh trưởng đến chỗ tăng trưởng bành trướng cực điểm. Tượng trưng cho giai đoạn tìm thế hoạt động chuyển đến giai đoạn thực sự hoạt động. (Từ tích trữ năng lượng đến sử dụng năng lượng).
Hỏa sinh Thổ (ý nghĩa thực sự là lửa cháy xong thành đất), tượng trưng cho cực điểm trở về trung tính, cực đại trở về cực tiểu. Tượng trưng cho giai đoạn bộc phát sử dụng năng lượng trở về giai đoạn bắt đầu.

Ngũ Hành Tương Khắc

Tương khắc không có nghĩa yếu tố này chống đối yếu tố kia, không có nghĩa kim khí chặt đứt cây cỏ, nước dập tắt lửa, lửa đốt tan kim khí… Tương khắc chỉ có nghĩa tính chất của yếu tố này đối nghịch với tính chất của yếu tố kia. Như tính chất của Thủy mát mẻ đối nghịch với tính của Hỏa nên bảo Thủy khắc Hỏa. Tính của Kim thu teo, tính của cây cỏ thăng phát nên bảo Kim khắc Mộc. Ngoài ra tương khắc còn xảy ra lúc hai tính chất đối nghịch của hai yếu tố đứng lẫn vào nhau, hoặc giai đoạn năng lượng không theo thứ tự thuận chuyển theo chiều Dương mà đứng lẫn vào địa vị của nhau ở mức độ cực bất cập hoặc cực thái quá cũng gọi là tương khắc.
Thổ khắc Thủy (ý nghĩa thực: đất ngăn chặn được nước), tượng trưng cho tính chất tĩnh như Thổ khắc tính chất lưu hoạt như Thủy. Tượng trưng cho tính ẩm ướt và nóng của Thổ đối nghịch với tính lạnh ráo (mùa Đông) của Thủy. Ví dụ mùa Trường Hạ (tháng sáu) đối nghịch với tính lạnh giá của mùa đông.
Kim khắc Mộc (ý nghĩa thực: kim khí chặt được gỗ), tượng trưng cho tính thu teo (của Kim) nghịch với tính thăng phát (của Mộc). Ví dụ khí hậu Thu nằm trong mùa Xuân.
Thủy khắc Hỏa (ý nghĩa thực: nước dập tắt lửa), tượng trưng cho tính lạnh ướt (của Thủy) nghịch với tính nóng cháy (của lửa). Ví dụ khí hậu mùa Đông nằm trong mùa Hạ.
Mộc khắc Thổ (ý nghĩa thực: Cây ăn mòn đất), tượng trưng tính thăng phát (của Mộc) nghịch với tính trung tính bất động (của Thổ). Ví dụ khí hậu Xuân nằm trong mùa Trường Hạ (cây trái chỉ xanh tươi mà không già chín được).
Hỏa khắc Kim (ý nghĩa thực: lửa đốt cháy kim khí chảy), tượng trưng tính đốt cháy, nóng bỏng, bành trướng (của Hỏa) nghịch với tính co rút, lạnh lẽo (của Kim). Ví dụ khí hậu mùa Hạ nằm trong mùa Thu (cây trái vẫn bành trướng không chín kịp, không thu teo để chuẩn bị cho giấc ngủ mùa Đông).
Khí hậu Trường Hạ nằm trong mùa Đông; khí hậu mùa Thu nằm trong Xuân; khí hậu mùa Đông nằm trong Hạ; khí hậu mùa Xuân nằm trong Trường Hạ; khí hậu mùa Hạ nằm trong mùa Thu đều là hình thức giai đoạn năng lượng không chuyển hóa theo thứ tự thuận chuyển, mà ngược lại đứng lẫn vào nhau ở các vị trí cực bất cập hoặc cực thái quá nên gọi là tương khắc. Ngũ Hành Thuận chuyển là bắt đầu từ Thổ (giai đoạn 0) rồi tới Kim (1), Thủy (2), Mộc (3) và sau cùng là Hỏa (4). Nay không thuận chuyển mà lại cực bất cập hoặc cực thái quá.
Cực bất cập tức thụt lùi hai giai đoạn: giai đoạn 2 lùi về giai đoạn 0, 3 lùi về 1, 4 lùi về 2. Cực bất cập là Âm khắc Dương. Như mùa Hạ mà có khí hậu của mùa Đông là Thủy khắc Hỏa.
Cực thái quá tức nhảy vụt ba giai đoạn: giai đoạn 0 nhưng vọt lên giai đoạn 3, 1 lên 4. Cực thái quá là Dương khắc Âm. Như khí hậu Hạ nằm trong mùa Thu là Hỏa khắc Kim.
Tặc tà trong bệnh lý ngũ tà là hình thức tương khắc của ngũ hành.
[…]

Âm Dương trong Ngũ Hành:
Không đâu không có Âm Dương, Ngũ Hành cũng có Âm Dương: Thổ có Âm Thổ và Dương Thổ,  Kim có Âm Kim và Dương Kim… Như Dần Mão thuộc Mộc; Dần thuộc Dương Mộc, Mão thuộc Âm Mộc.. Tỳ Vị đều là Thổ; Tỳ thuộc Âm Thổ, Vị thuộc Dương Thổ (Tạng thuộc Âm, Phủ thuộc Dương). Tuy nhiên, nếu tính về năm hành thì Thổ trung tính, Kim và Thủy thuộc Âm, Mộc và Hỏa thuộc Dương.

Tính phản quĩ

Phản quĩ được dịch từ chữ Feedback. Phản quĩ có nghĩa đáp quà (ú đi dì lại), người ta biếu quà thì mình biếu lại. Thật ra Feedback-phản quĩ có nghĩa rất rộng; tuy nhiên, ở đây chỉ dùng giới hạn trong y học. Phản quĩ có hai loại: phản quĩ nghịch (Negative Feedback) và phản quĩ thuận (Positive Feedback).

Phản quĩ nghịch (PQN).

PQN là một hệ thống kiểm soát sự điều hòa và tính ổn định của sự sống. Trong cơ thể có hàng ngàn hệ thống kiểm soát bao gồm mỗi tế bào, mỗi bộ phận của mỗi cơ quan, ngoài ra hệ thống kiểm soát còn điều hòa sự sinh hoạt giữa các bộ máy trong cơ thể để toàn diện làm việc cùng một nhịp độ. Ví dụ trong máu dẫn thán khí (CO2 ) đến phổi rồi lấy dưỡng khí từ phổi thì tụy tạng và gan điều hòa lượng đường trong máu, cùng lúc thận lo đào thải nước tiểu và tái hấp thụ các khoáng chất cần thiết..vv…
Để rõ tính PQN, lấy một vài ví dụ:
-   Lúc ta đói bụng vì lượng glucose trong máu giảm, Hạ Bộ Thị Khâu (HBTK -Hypothalamus) kích thích chúng ta tìm thực phẩm. Sau lúc ăn, máu đầy đủ glucose, HBTK cho ta biết đã no, đừng ăn nữa.
-   Khát cũng vậy, khi trong người thiếu nước, trung tâm khát ở HBTK bị kích thích làm ta cảm thấy khát. Sau lúc uống nước đủ, trung tâm khát không còn kích thích, ta hết khát và ngừng uống.
-   Về sự cung cấp Oxygen (O2) và đào thải thán khí (CO2): khi máu mang O2 đến các tế bào, nếu tế bào đã đủ Oxy thì PQN một mặt không cho máu nhả Oxy, một mặt không cho tế bào hấp thu thêm Oxy nữa. Riêng vấn đề hô hấp, khi làm việc nặng nhọc hoặc tập thể thao.vv… thở nhiều, cơ thể đốt cháy nhiều thức ăn tạo nhiều thán khí và lấy thêm Oxy. Trường hợp thán khí quá thấp thì PQN làm giảm thở để cho thán khí tăng thêm. Đối với áp huyết cũng được PQN kiểm soát: các mạch máu lớn ở phần trên cơ thể, đặc biệt động mạch cổ (carotid arteries) có áp thụ tử (baroreceptor) đẻ cảm nhận áp huyết. Nếu áp huyết cao thì áp thụ tử sẽ chuyển dấu hiệu đến trung tâm não tủy, từ trung tâm não tủy sẽ chuyển mệnh lệnh đến trung tâm co giãn mạch máu (vasomotor center). Từ đây hệ trực giao cảm được mệnh lệnh giảm hoạt động nên tim đập chậm hơn, mạch máu ngoại biên giãn làm cho áp huyết giảm tới mức bình thường. Nếu áp huyết giảm quá, ngược lại, hệ PQN lại hoạt động ngược lại với trường hợp áp huyết cao và làm cho áp huyết tăng lên đến mức bình thường.
Tất cả trên là PQN – là hệ thống kiểm soát mọi hoạt động của mọi tế bào, của mọi cơ quan, và của mọi bộ phận để tất cả hoạt động một cách hòa điệu bất kể thời gian và không gian để giữ vững tính ổn định của Nội Môi Trường. Nếu các tế bào hoặc bất cứ một cơ quan hoặc một bộ phận nào hoạt động lạc nhịp, không chia sẻ tính hòa điệu toàn diện thì sự ổn định của Nội Môi Trường sẽ không còn và dẫn đến bệnh tật, dẫn đến sự chết.
Như vậy, PQN là một hình thức phản ứng ngược với kích thích ban đầu. Kích thích ban đầu làm tăng thì PQN làm giảm. Ngược lại, kích thích ban đầu làm giảm thì PQN làm tăng. Tăng hay giảm của PQN không ngoài mục đích giữ cho mọi hoạt động của tế bào, của cơ quan và của toàn cơ thể luôn làm ở thế quân bình và ổn định.

Phản Quĩ Thuận (positive feedback): PQN giúp sự sống điều hòa, tồn tại. Ngược lại, Phản Quĩ Thuận (PQT) dẫn tới sự chết. Ví dụ:
-   Đói ăn: HBTK có trung tâm “Đói và khát”. Khi trung tâm này kích thích chúng ta cảm thấy đói, chúng ta ăn. Với PQN sẽ làm ta ngừng ăn khi đã no. Ngược lại PQT mặc dầu đã no, vẫn kích thích chúng ta ăn. Ăn không biết no, ăn mãi dẫn tới bội thực mà chết.
-   Khát cũng vậy, trung tâm khát kích thích, ta nghe khát, uống và uống hoài vì PQT vẫn kích thích chúng ta uống, uống hoài mà chết.
-   Trường hợp xuất huyết: một người xuất huyết một lít máu, với PQN, tim phải đập nhanh để máu luân lưu trong cơ thể đủ 5 lít/phút thì mới sống được. Ngược lại, PQT thì máu càng ra, tim càng đập chậm làm cho máu luân lưu trong cơ thể giảm hẳn, chẳng những không đủ 5 lít/phút mà còn xuống thấp khoảng 3-2 lít/phút. Cơ thể chết. Xuất huyết là một sự kiện tiêu cực, tim đập chậm cũng là dấu chứng tiêu cực. Cũng như trường hợp Đói và Khát, kích thích ban đầu tăng, PQT tăng…
PQT không ngăn cản những hoạt động thái quá hoặc bất cập, ngược lại, thái quá thì làm thái quá thêm, bất cập thì làm bất cập thêm. Như vậy sự sống mất quân bình, Nội Môi Trường không còn tính ổn định nữa.


Tuyến giáp trạng
[…]
Tuyến giáp trạng rất quan trọng trong biến dưỡng căn bản, nếu không có Thyroxine thì cơ thể không thể phát triển. Đặc biệt nếu không Thyroxine thì cơ thể không chịu được lạnh và bị phù thủng, huyết áp giảm, tinh thần chậm chạp, ngủ li bì.vv…
Tuyến giáp và tủy nang thượng thận kết hợp với nhau, một bên tiêt Thyroxine, một bên tiết Adrenalin để một bên điều hòa biến dưỡng cơ thể và một bên cần cho sự phấn đấu của đời sống sinh lý đối với ngoại mội trường Hai bên hỗ trợ nhau để tạo nên sức sống động của cơ thể. Vì lẽ đó Tâm Hỏa (Quân Hỏa) và Thận Hỏa (Tướng Hỏa) là Tuyến Giáp Trạng và Tủy Nang Thượng Thận.

Bệnh do tăng giảm Thyroxine:
-   Giảm Thyroxine: Đàn ông sẽ mất sinh dục. Đàn bà kinh nguyệt sẽ không đều, và không chịu được lạnh. Những nơi xa biển, thiếu chất Iodine, tuyến giáp trạng làm việc nhiều làm cho tuyến càng lớn tạo thành bướu cổ…
-   Tăng Thyroxine: Có những bệnh như ung thư tuyến giáp trạng hoặc có bệnh làm Thyroxine tiết ra nhiều, con người gầy yếu, con mắt bị lồi.. (gọi là Grave disease).

Tuyến Tụy Tạng […]

Insulin và bệnh đái tháo đường (Diabete Mellitus): ĐTĐ
Đái đường vì Insulin có hai loại: Loại cấp tính và loại trì tính.
-   Loại cấp tính: Người bệnh thường trẻ từ 40 tuổi trở xuống. Loại này do tế bào Beta (B) bị hư hại không còn sản xuất được Insulin nữa. Do đó đường không được đưa vào tế bào cho nên đường trong máu cao, bị thải qua nước tiểu. Nước tiểu có đường, gọi là bệnh đái đường. Đường bị đái ra hết không còn để tạo năng lượng, cơ thể phải dùng chất mỡ và chất thịt để tạo năng lượng. Khi dùng chất mỡ để tạo năng lượng thì Cholesterol được tạo thành làm cho mạch máu bị nghẽn dẫn tới cao huyết áp, tai biến mạch máu não, đui mù, có khi phải cắt cả chân hoặc cả tay,vv…
Muốn chữa bệnh ĐTĐ cấp tính, trừ Insulin không có gì chữa được. Bệnh nhân phải dùng Insulin hàng ngày.
-   Loại trì tính thường xảy ra cho người bệnh từ 40 tuổi trở lên. Nguyên nhân có thể vì tế bào Beta (B) tiết Insulin không đủ hoặc có Insulin nhưng Insulin yếu nhược không đủ hoạt tính để biến dưỡng chất đường. Nếu không trị liệu, hậu quả vẫn như loại cấp tính. Tuy nhiên, nếu trị liệu có thể dùng ít Insulin hơn loại cấp tính hoặc dùng loại thuốc tăng hoạt Insulin của bệnh nhân.

 Smiley

 10 
 vào lúc Tháng Sáu 14, 2019, 09:07:38 PM 
Tác giả TamDao - Bài mới nhất gửi bởi demen
Bà con còn nhớ lời khuyên của Thầy là :
'Nói việc mình làm,
làm việc mình nói'.
Chỉ cần theo lời khuyên này thì những câu hỏi sẽ được Thầy trả lời thôi. Grin Grin Grin

Trang: [1] 2 3 4 5 6 7 ... 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2015, Simple Machines Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.036 seconds với 17 câu truy vấn.