Hoa Sen Trên Đá

An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt

Tháng Mười 19, 2018, 12:34:20 PM *
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.

Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát
Tin tức     2 người đang vào nhập cốc. Tổng số nhập cốc: 9. Thời điểm cùng nhập cốc nhiều nhất: 12:34 AM
 
   Trang chủ diễn đàn   Trợ giúp Tìm kiếm Lịch Đăng nhập Đăng ký  
Trang: [1]   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nồi Bánh Tét và Đạo Quả  (Đọc 4110 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hstd
Khách
« vào lúc: Tháng Hai 13, 2010, 07:43:00 AM »


Nồi bánh tét và Đạo quả 1
5:15 AM 31/12/2006

Chào các Bạn.

Cũng gần đến đêm giao thừa rồi.

Hôm nay, ngồi ghế xa lông lại nhớ đến nồi bánh tét ở nhà ông Ngoại ở khu Số Bốn, Đà Lạt. Hằng năm, đệ hay lên nhà Ngoại để canh bánh tét. Ngồi bên này (Mỹ) mà lại nghĩ về chuyện hồi xưa thì cũng lạ thiệt. Lạ là vì Các Ngài đã nói rằng: Quá khứ đã qua rồi, tương lai thì chưa đến, và hiện tại thì đang trôi. Thế nhưng, cái chuyện nồi bánh tét cũ rích này cứ lì lợm không chịu chết theo quá khứ mà cứ lởn vởn trong đầu đệ hoài thôi.

Chuông điện thoại lại reo! Đệ tự hỏi: Ai kêu mình vào giờ này cà? La Hầu La (vợ của đệ) cầm điện thoại lên và trả lời với giọng còn ngái ngủ:

-- Allo! Nghe đây, ai kêu vậy?

Bên kia đầu dây:

-- Hà đây!

La Hầu La tỉnh hẳn người và kêu to lên:

-- Anh ơi! Có điện thoại!

Đệ đeo cái bộ nghe vào, bên kia đầu dây một giọng quen thuộc vào đề liền mà không cần giới thiệu lôi thôi:

-- Ngày mai là em mời anh em lên trên cốc để khai mạc chỗ tu tập cho anh em.

-- Ừ! Bên này sẽ nghiên cứu bên đó!

-- Nghiên cứu?

-- Để ý bên đó một chút đó mà!

-- Sau lâu nay, em tu nó cứ dậm chân tại chỗ hoài! Chẳng đi vào đâu cả!

Tất nhiên đây là một câu hỏi rất là phổ thông trong nhóm lu bu.

-- Vậy là ông muốn so sánh chớ gì? Để tui so sánh cho ông nghe. Ông Bà có nói rằng: Biết người, biết ta: Trăm trận trăm thắng.

Làm thế nào để "biết ta" đây mới là vấn đề.

Có hai vấn đề chính:

Thứ nhất là khi mình còn Vô Minh thì mình có đủ thứ. Dĩ nhiên: Các thứ này chỉ xuất hiện, khi gặp đầy đủ nhân duyên. Mà nhân duyên nặng nề nhất là màn vô minh.

1. Thể Xác với một công dụng duy nhất là: Chịu các ác nghiệp mà mình đã tạo ra một cách cố ý từ Vô Thủy cho tới kiếp này.

2. Một cái Linh Hồn là cái phần nhạy cảm thứ nhì, sau cái thể xác. Chính nó mang cái nghiệp từ kiếp này qua kiếp khác. Nó cũng như cái thể xác: có nghĩa là nó cũng sẽ biến mất khi gặp duyên lành như: Khi đắc quả vị Phật hay quả vị A La Hán.

3. Một cái tư tưởng, vốn là một kẻ thù truyền kiếp khi còn ở trong màn vô minh. Nhưng lại là một người bạn rất là tốt trên đường đi đến sự Giải Thoát. Như đã nói ở trên: Ba cái này chỉ có khi mình còn ở trong màn vô minh. Hay đúng hơn là khi còn cái "Tôi".

Tất nhiên, cái thứ nhì là khi mình đắc quả A La Hán hay quả vị Phật thì ba cái lôm côm ở trên (thể xác, linh hồn và tư tưởng) sẽ triệt tiêu vì thật ra: Ba cái đó chỉ là phóng ảnh của cái "Tôi" hay là cái bản ngã. Ngắn gọn như vậy đó là "biết ta" một cách "không giới tính" rồi đó.

Nhưng thực tế: Con Người lại có hai giống Cái và giống Đực.

Giống Cái thì bắp thịt lại tròn, sức chịu đựng thuộc loại bền bỉ, cuộc sống thiên về sự tự kềm chế hay đè nén,... chỉ có một phần ít là sống như giống Đực mà thôi. Lý do mà giống Cái hay rơi vào tình trạng "bị kềm chế" là vì... cái nghiệp sát chi phối rất nhiều nên mới ở vào thế yếu như vậy. Thông thường thì khi nhìn nhau thì phần đông giống Cái đều nhìn vào bộ ngực của nhau. Do yếu tố đó mà ông bà lại quyết định là nguyên khí của giống Cái là ở ngay lồng ngực.

Giống Đực thì bắp thịt lại vuông, sức chịu đựng lại không có bền bằng giống Cái, nhưng lại có nhiều sức mạnh. Do yếu tố là "có sức mạnh" nên đời sống có vẻ ngang tàng, phong độ hơn và khi phát biểu thì lại có uy hơn giống Cái... Chỉ có một số rất là ít lại sống như giống Cái mà thôi. Lý do mà giống Đực ít bị kềm chế là vì ít bị nghiệp sát hơn, nếu so sánh với giống Cái. Thông thường khi nhìn nhau thì giống Đực lại nhìn vào bộ phận sinh dục của nhau. Do yếu tố đó mà ông bà lại quyết định là nguyên khí của giống Đực lại nằm ở ngay bộ phận sinh dục. Khi phản ứng trước một hiện tượng thì giống Cái lại náo loạn và mạnh mẽ hơn giống Đực.

Ví dụ:

Khi coi vũ sexy thì giống Cái lại hò hét nhiều hơn giống Đực. Khi uống rượu thì giống Cái cũng ồn ào hơn. Khi nghiện một cái gì rồi thì giống Cái lại nghiện nặng hơn. Khi phân chia phe đảng, thì giống Cái lại sống chết với phe của mình nhiều hơn giống Đực...

Vì lý do giống Cái hay rơi vào tình trạng "thái quá" này (tỷ lệ 70%) mà Đức Phật phải đề nghị ra nhiều giới luật hơn giống Đực.

Đại khái như vậy là "biết ta" có giới tính.

Nay tui lại so sánh về tình trạng tu hành hay công phu.

Phần này lại có hai phần.

A- Vô minh:

Trong tình trạng này, con người (không viết chữ hoa, vì ít coi trọng chữ Hiếu) bị rơi vào tình trạng "bán thân bất toại" hay "tê liệt đi phân nửa". Có nghĩa là thể xác thì hoạt động được 100%, nhưng phần "tâm linh" thì bị tê liệt hoàn toàn.

Trong tình trạng này, con người cũng xả thân đi tìm cái hạnh phúc.

Nhưng họ chỉ chú trọng đến những cái hạnh phúc theo sự cảm nhận của các giác quan. Tình trạng đầu tư vào việc đi tìm hạnh phúc này cũng tương đương với những tu sĩ hạng nặng. Họ cũng thức khuya, dậy sớm; họ cũng... ngồi miệt mài suy nghĩ về những đề tài; họ cũng... bỏ ăn, bỏ ngủ, lăn xả vào những cuộc đầu tư và... chơi thí mạng cùi vào những mục tiêu đó, vốn là: tiền bạc, công danh, quyền lực, hơn thua...

B. Tu hành:

Trong tình trạng này, Con Người có vẻ thăng bằng hơn: thể xác và tâm linh có phần nào tương trợ vào nhau, kềm chế lẫn nhau, nên ít rơi vào phần thái quá. Có nghĩa là: họ cũng mưu tìm sự hạnh phúc. Trong tình trạng này: Họ cũng... bỏ ăn, bỏ ngủ để học hỏi và đầu tư vào con đường thực hành. Lại có hai con đường:

1. "Xuất Thế": Đó là các Đạo Pháp có liên quan đến phần thực hành. Để tiến tới mục đích là thành các linh vật như: các loài Rồng, hay cao cấp hơn. Sự cao cấp này trải dài từ Con rồng, qua các loài Quỷ, các loài Thần, rồi Con Người (viết hoa là vì tình trạng chú trọng đến chữ Hiếu) và sau đó là ông và bà Tiên ở Dục Giới (Từ cung trời Tứ Đại Thiên Vương đến Tha Hoá Tự Tại), Sau cùng là các Chư Thiên ở các cõi Sắc Giới như Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, kế đến là những cõi cao cấp khác như là các cõi Vô Sắc (từ Không Vô Biên Xứ trải dài đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ).

2. "Siêu Thế": Có nghĩa là thực hành để thành các quả vị Thánh có liên quan đến ba pháp ấn: Khổ, Vô Thường và Vô Ngã. Các quả vị Thánh này là:

2.1. Tu Đà Hườn (những vị được gọi là Nhập Lưu hay Ngộ Đạo). Đặc biệt chỉ còn làm Con Người tối đa là bảy kiếp nữa mà thôi

2.2. Tu Đà Hàm (Những vị "Nhất Lai", có nghĩa là: Sẽ còn trở về làm Con Người thêm một kiếp nữa rồi vào Niết Bàn luôn)

2.3. A Na Hàm (Những vị "Bất Lai", có nghĩa: Không còn trở lại làm kiếp Con Người nữa, mà chỉ thẳng tiến lên các cõi Tịnh Cư Thiên và nhập Niết Bàn luôn tại đó). Đặc biệt, nếu là cư sĩ mà đắc quả vị này, thì lại có khuynh hướng sống "Độc Thân".

2.4. A La Hán là những vị đang làm Người mà đã giải thoát và có thể nhập Niết Bàn ngay trong kiếp này

Đến đây thì tui có thể trả lời câu hỏi của ông bằng cách so sánh với những người có tu, có chứng và có đắc. Ông đã hỏi tui:

-- Sao lâu nay, em tu mà nó cứ dậm chân tại chỗ hoài! Chẳng đi vào đâu cả!



Nồi bánh tét và Đạo Quả 2

Cái chuyện "chứng hay đắc" chỉ là những cảm giác của cái thân thể mà thôi. Hay đúng hơn là cái cảm giác "dậm chân tại chỗ" của ông chỉ là cái cảm giác của cái thân mà thôi, chớ ông đâu có cảm nhận được cái cảm giác của cái... linh hồn? Như vậy câu hỏi đặt ra là: Tại sao có cái chuyện hoạt động không đồng bộ giữa cái thể xác và cái linh hồn vậy.

Chuyện ầm ỷ này cũng chỉ tại lỗi ở cái thân xác này mà thôi. Như đã nói ở trên: Công dụng của thể xác là chỉ để trả nghiệp mà mình đã cố ý tạo ra từ vô thủy cho tới nay. Và cũng tại vì một phần ở cái sự... ngu dốt của mình khi, bỗng nhiên hứng chí, nghe theo những người tu hành để mà... tu hùa! Như vậy, nhìn từ bên ngoài: Thân thể này có vẻ bình thường không có gì sai khác nhau nhiều lắm. Tuy vậy, nhìn cho thiệt là kỹ, vào tận bên trong, thì những tu sĩ nhà nghề sẽ phân biệt được sự khác nhau rất là nhiều giữa người này và người kia. Sự khác nhau sở dĩ xảy ra là vì do những ác nghiệp mà những người này đã cố ý tạo ra từ vô thủy cho đến nay. Trên thể xác, những ác nghiệp thuộc về quá khứ, khi đầy đủ nhân duyên, lại có thể ngăn chận máu không đem "chất bổ" đến để nuôi dưỡng một bộ phận nào đó hay một đám rối thần kinh nào đó. Những trẻ em với những khuyết tật bẩm sinh hay những người già với những căn bệnh kinh niên... là những thí dụ rõ ràng nhất. Đây là nói về tình trạng sức khỏe bình thường của một người.

Còn về vấn đề tâm linh thì nó lại càng rắc rối hơn nhiều. Tiện đây, tui xin phép kể cho ông nghe sự thành lập của một bầu thai, chỉ vì theo cái thói quen về sắc dục, mà có thể biến thành "con trai", "con gái", "lại cái" hay "lại đực" ngay từ lúc nhập thai.

Con trai hay con gái: Khi linh hồn đem theo cả các tiền nghiệp của các kiếp trước, lại... nằm mơ và thấy cảnh "nghiên cứu" của cha mẹ mình và khi nhìn cái cảnh đó thì giấc mơ lại chuyển thành cái cảnh... chính mình đang "nghiên cứu" với cha của mình! Trong cái cảnh mà Đức Phật nói là "điên đảo, mộng tưởng" này, linh hồn biến dạng và thành ra một đứa con gái. Và dĩ nhiên, khỏi nói thì ông cũng thấy rằng nếu linh hồn, trong cơn "điên đảo, mộng tưởng", lại thấy cảnh mình đang "nghiên cứu" với mẹ mình thì sẽ đầu thai ra để làm một đứa con trai.

Lại cái hay lại đực: Như vậy, theo nguyên tắc trên, nhưng vì cái thói quen "hay tự giải quyết" của các tiền kiếp, nên trước cảnh nghiên cứu của cha mẹ mình thì mình lại "điên đảo mộng tưởng" khi lại thấy cái cảnh mình "tự giải quyết" (theo thói quen hay phản xạ đã được huân tập từ nhiều kiếp trong quá khứ). Trong trường hợp này, nếu linh hồn nghiêng về (hay bị thu hút bởi) người mẹ nhiều thì sẽ một người "lại cái" với một thân xác là con gái. Còn nếu nghiêng về (hay bị thu hút bởi) người cha (lúc này trong cái thấy của linh hồn: nó chỉ chú tâm đến người cha), do lý do đó mà nó sẽ "lại đực", với một thân xác là con trai. Tất nhiên, đối với số đông tình trạng "lại cái" hay "lại đực" chỉ ngủ ngầm, đợi dịp đầy đủ nhân duyên thì xuất hiện và bất ngờ làm thay đổi cách sinh hoạt một người. Do vậy, mà có khi vừa mới tuổi trưởng thành mà đứa trẻ đã là "lại cái" hay "lại đực" rồi. Một đôi khi, một vài người lại bỗng nhiên đổi thành "lại cái" hay "lại đực" sau khi có gia đình đàng hoàn. Dĩ nhiên cũng phải nhắc đến những đứa bé bị khuyết tật nơi bộ phận sinh dục, lý do là vì cái "điên đảo mộng tưởng" đó lại quá mạnh.

Qua những ví dụ dài dòng trên: Chắc ông đã có thể cảm nhận tình trạng cay đắng của những ác nghiệp mà mình đã cố ý tạo nên rồi! Do vậy, những thói quen được huân tập hay được làm tới làm lui nhiều lần, mà cái ác tâm mới có đủ cái sức mạnh để lưu lại những tì vết trên thân thể: Ông cũng đã từng nghe nói là một người với nét mặt xấu trai, như tui đây, là do chìm đắm vào nghiệp sân hận... Một người sợ nước, đến độ không dám tắm là vì bị ám ảnh bởi cảnh chết chìm hồi xa xưa. Một người tuy là giàu có nhưng lại chỉ xài đồ củ, đồ mẻ, đồ nứt là vì cái cảnh... cháy nhà sau khi đã bỏ công, bỏ của ra mua sắm để trang trí nội thất đã xảy ra vào tiền kiếp... Như vậy, thử hỏi một người cứ chê bai một người khác về chuyện tu hành, trong khi người đó đang cố gắng hết sức để tiến tu! Hay là lại rũ quyến các tu sĩ phá giới thì sẽ bị cái chuyện gì, khi đến phiên mình cũng cố gắng... tu nhưng chỉ là mới... tu hùa như bọn mình đây.

Như vậy chuyện gì xảy ra trong giai đoạn... tu hùa này.
1:55 PM 1/2/2007



Nồi bánh tét và Đạo Quả 3

Chuyện gì đã xảy ra trong giai đoạn sơ phát tâm này? Nhiều chuyện thuộc vào loại không thể nghĩ bàn đã xảy ra: Trước hết phải nói đến sự ngu xuẩn của bọn mình: Theo lá số Tử Vi thì phước cạn thì Thầy bói mới khuyên là nên đi tu. Vì đời đang lên hương, tuổi còn trẻ, ai mà ngu đến độ lại tính chuyện đi tu bao giờ? Thế nhưng thực tế thì khác hẳn: Phước báu nhiều thì mới có thể đi tu được! Nói trắng ra: Nhà giàu thì mới tu được, có nghĩa là "giàu về cái gì cũng được": Giàu về của cải, giàu về kiến thức, giàu về nghệ thuật, giàu về tình thương,... tóm lại "Con Người có đầu óc thì mới tu được".

Nhân chuyện này, tui lại bàn về "cái nghèo của bọn mình", ông còn nhớ tình trạng "lá dập đùm lá rách" của bọn mình không? Ông cũng còn nhớ đến cái câu nói thuộc loại "chó ngáp phải ruồi" của tui trước khi đi Mỹ:

-- "Em mà qua Mỹ, thì mấy anh sẽ tu được ngon lành và dễ dàng hơn".

Và, quả nhiên là đúng như vậy, anh em làm ăn... phát đạt ra và cũng từ đó lại tu hành có vẻ dễ dàng hơn: Nói về "Thiền quán" thì trong bọn mình lại ít bàn đến... chuyện "Sơ Thiền" Vì rằng cái chuyện giữ một đề mục lâu mười mấy giây thì ai rồi cũng làm được!

Nói về A Di Đà thì có người cho rằng, phương pháp này không có gì là bảo đảm cho lắm, chỉ làm với tính cách cầu may mà thôi! Nhưng cái "không thể nghĩ bàn" đã xảy ra cho bọn kém phước báu như bọn mình như sau: Anh Thái... lại Ngộ Đạo khi niệm Phật (vào thời đó, anh là người cư sĩ duy nhất đạt được chuyện kỳ lạ đó ở Đà Lạt). Và dĩ nhiên, cái chuyện độ tử lừng danh đáng ghi vào sách Guiness (sách ghi những kỷ lục thế giới) của những cư sĩ còn trẻ trong bọn mình.

Bàn về Mật thì cũng hết sảy: Những bài thuốc đặc trị như bài sám hối cho riêng từng người được đưa từ A Tỳ Địa Ngục về cõi trần gian và... "cho không" theo kiểu kính biếu đến tận tay những người có nghiệp nặng là... vô giá! Hiện nay, trên toàn thế giới, không có một chỗ nào bàn về chuyện này. Tất nhiên, những cái vớ vẩn khác như chuyện quỷ nhập, chữa bệnh... thì cũng chỉ là những chuyện "bên ly cà phê".

Trên đây, chỉ là những gạch đầu dòng vào cái thời còn sơ khai của bọn "lu bu", và dĩ nhiên tui chỉ nhắc lại cho ông nghe và ông so sánh với thực tế để thấy rõ những cái trưởng thành của bọn mình. Như vậy, ông cũng đã thấy cái phước báu chung chung của bọn mình rồi chớ gì? Về phần cá nhân, tui lại phải so sánh cho ông rõ về hai cái phước báu: (đường lại cực kỳ trơn trợt, xin bà con giảm vận tốc đọc lại)

1. Phước báu hữu lậu: Có nghĩa là "người nhận phải cám ơn người cho" và người cho cũng vui lòng hả dạ với cái chuyện làm phước của mình. Vì tính cách bản ngã được tâng bốc lên như vậy, nên: Cho dù có cúng dường cho những tu sĩ thứ thiệt đi nữa thì cũng chỉ là phước hữu lậu (có nghĩa là... cái phước này rồi nó cũng hết, hay rõ ràng hơn cái phước này nó sẽ chuyển qua sự "giàu sang", giàu kiến thức, giàu về nghệ thuật,... và rồi nó cũng tan biến theo thời gian.

2. Phước Báu Vô Lậu: Có nghĩa là "người cho phải cám ơn người nhận" và người nhận thì cũng vui lòng hả dạ với cái chuyện nhận phước này. Đây mới là hành động của Ba La Mật. Đây mới là hành động có thể gọi là đồng dạng với những chuyện "Vô Tác" của các bậc Thánh Nhân. Do chuyện tréo cẳng ngõng này (hoàn toàn ngược lại với chuyện đời) mà bọn mình không có một tý kinh nghiệm gì về Phước Báu Vô Lậu.

Do vậy, khi làm phước thì nên tận tay mà trao (tuy là rất là tốt, nhưng chỉ là thứ yếu), và phải "cám ơn người nhận" đây mới là chìa khóa của "Phước Báu Vô Lậu". Ở đây dể xảy ra cái chuyện "Không có người cho và không có người nhận". Sự chuyển hóa kỳ diệu giữa "tài thí" sang "Pháp Thí" chỉ lắc léo ở chỗ này thôi! Tui nhắc lại một lần nữa: "Người Cho Phải Cám Ơn Người Nhận". Làm một cách "tùy hỷ công đức " như vậy, thì tâm ý mới có cách để đồng dạng với Chơn Tâm. Và dĩ nhiên làm nhiều lần một cách "... vô... tư" như vậy thì chuyện "Ngộ Đạo" (Nhập Lưu hay là bậc thánh tăng Tu Đà Hườn) là chuyện tất nhiên phải tới. Vì nhân đã Vô Lậu thì quả phải Vô Lậu.

Như một người nuôi đứa con và làm hai ca để kiếm tiền về cho nó ăn học! Người nuôi nhìn sự lớn như thổi của đứa nhỏ mà quên đi sự mệt nhọc của mình và cố gắng vắt mình ra để đem tiền về nhà! Bọn mình cũng vậy, ra đường nhìn người ta chưa biết gì thấy mà chóng mặt, trước tình cảnh bi đát đó, bọn mình chỉ còn có quên mình mà tu thôi, tui cũng vậy, ông cũng vậy, cả đám mình cũng vậy.

Đó là phần phước báu.



Nồi bánh tét và Đạo Quả 4

Kế đó dĩ nhiên là đến cái thân xác này, phải nói đây là một công cụ để giao duyên với nhau. Với một tuổi thọ chỉ có vài mươi năm, rồi không biết bao nhiêu là bệnh hoạn đang nằm phục kích chỉ cần đi đến giai đoạn thứ hai trong chu kỳ "Sinh, Lão, Bịnh, Tử" thì cho dù đó là đại lực sĩ thì cũng rồi sẽ biết thế nào là "Bệnh" là "Đau" và là "Khổ". Từ vị trí này, con người sẽ thấy đâu đâu cũng là sự hủy diệt. Tất cả những người thân cũng như thù rồi đây cũng nối đuôi nhau vào lò sát sinh của Quỷ Vô Thường.

Trong thảm trạng như vậy, ấy vậy mà lại hay! Ai mà trong con người lại không hiểu sự chết, sự hủy hoại. Vì ai cũng hiểu như vậy, nên: đây là một môi trường gồm những người... thông minh hơn các cõi khác! Vậy mới tức cười chớ! Thật vậy có lần tui leo lên Đao Lợi để tán láo (bằng cách thần giao cách cảm) về Con Người cho họ nghe, tui long trọng chỉ cho họ thấy thế giới văn minh, những tòa cao ốc... từ dưới, nhìn lên đến... trặc cổ! Những tòa xe lửa chạy với vận tốc 300 cây số một giờ, những đường hầm chìm hẳn dưới lòng biển nối từ nước này qua nước nọ, những máy bay siêu âm bay... đang nói ngon trớn, thì tui thấy mấy ông bà tiên này mặt mày buồn xo!

Lý do là vì: Tuy là chỉ là trình độ Cận định loại yếu nhưng vì câu chuyện quá lạ và quá thật đi, nên một vài ông bà tiên này cũng thấy được một vài hình ảnh!

Họ than thở rằng:

-- Có cái cảnh khổ đến như vậy à! Tại sao lại chui vô mấy cái thùng nho nhỏ đó để đi từ nơi này đến nơi khác làm gì vậy cà! Sống chen chút như vậy chịu sao nổi!...

Rồi họ quay sang tui và nói rằng:

-- Ở đây, muốn đi tới đâu thì chỉ cần nghĩ đến là tới nơi liền. Cái chỗ của anh họ chết nhiều quá, chỉ mới có một thoáng nhìn vào thành phố thì đã thấy có người chết rồi! Ở đây đâu có ai chết đâu.

Một ông tiên ngồi gần ông đang nói, mới nhìn ông này và thần giao cách cảm như sau:

-- Chết là làm sao

Ông nọ trả lời:

-- Chết là nằm một chỗ và hết thở rồi linh hồn bay ra ngoài thân thể?

-- Linh hồn là cái gì? Và... thở là cái gì, thở ra làm sao

Ông thấy không? Tuy là cõi cao hơn tụi mình nhưng lại không có những cái mà tụi mình có (ý tui muốn nói đến cái thể xác), do vậy mà họ không hiểu gì hết!...

Nay lại bàn tiếp về thể xác:

Mặt khác thể xác lại là chỗ để chịu những ác nghiệp mà mình đã cố ý tạo ra từ vô thủy đến nay, do vậy mà bên trong lại có chuyện cái nghiệp nó chận không cho máu đem chất bổ đến một vài bộ phận. Do vậy mà người này thì mang bệnh này, người kia lại bị bệnh kia... Từ nguyên nhân trên, ông có thể suy ra những đám rối thần kinh, những trung tâm năng lực cũng không phát triển đầy đủ (bị khuyết tật) nên việc tiếp nhận những chấn động vũ trụ cũng khác đi: Người thì nhậy cảm, kẻ thì chai lỳ... Từ đó, với một thể xác chưa... phát triển đầy đủ thì khó có thể cảm nhận được những kinh nghiệm tâm linh một cách rõ ràng (tình trạng cà xịch cà đụi này rất là nhiều).

Câu chuyện chứng đắc này nọ về công phu có thể ví như một người ngồi canh... nồi bánh tét vậy: Người thì canh lúc bảy giờ chiều, người thì canh vào lúc mười giờ đêm và người thì canh vào lúc bình minh. Phân tích cho kỹ, ông thấy rằng: Người canh vào lúc bảy giờ chiều thì: Dư âm của một ngày chạy đôn, chạy đáo làm việc cho xong để kịp đón xuân và buổi cơm chiều còn làm cho họ no! Tình trạng này, có thể ví như khái niệm về đời thì rõ ràng nhưng về đạo thì còn mù mờ như cái nồi bánh tét còn lạnh tanh khi mới vừa bắt lên.

Người canh vào lúc mười giờ đêm có thể có một vài kinh nghiệm về mùa Xuân, khi xơi vài cái bánh ú, hay thưởng thức vài ngụm trà trong khi nồi bánh tét đang sôi, và họ đã đi phải đi ra giếng múc nước và châm vào nồi bánh một vài lần rồi. Thêm vào đó, những câu thơ theo thể loại... "Phản Kiều" (ngược lại với truyện Kiều của Nguyễn Du) được ông Ngoại đọc lên và bình luận, càng làm cho không khí của mùa Xuân càng thêm ấm cúng và đặc biệt.

Tất nhiên, khi nghe kể như vậy ông cũng hiểu cái ý của tui nói về kinh nghiệm tâm linh, tuy là ít (như việc thưởng thức vài cái bánh ú, và chiêu vài ngụm trà của Ông Ngoại trồng và làm bằng tay đặc biệt cho ngày Xuân...) cũng như những giới luật mà mình phải giữ để qua những giai đoạn khó khăn trong lúc công phu (như là lúc ra giếng múc nước vào ban đêm: Lúc này là lúc không có giỡn chơi nữa, mà phải cẩn thận từng bước đi để tránh đạp lên những cây kiểng, và khi ra đến cái giếng vào ban đêm thì phải cẩn thận tối đa để khỏi lọt xuống hố... vv và vv... Tất nhiên là những câu thơ đặc biệt thuộc loại "Phản Kiều" có thể ví như là những thắng trí (là những kinh nghiệm tâm linh vượt ra ngoài sức tưởng tượng cao nhất của con người) mà hành giả đạt được trong lúc công phu.

Người canh vào lúc bình minh thì thật là tuyệt vời: Nhìn cảnh thơ mộng của đồi núi với cái lạnh của những ngày cuối năm, với sương mù dăng mắc khắp nơi, tiếng gà gáy, chó sủa, cảnh mặt trời mọc, những cành hoa anh đào còn động sương... vv và vv… Khỏi nói đây là cảnh chứng đắc của những bật thuộc loại thượng căn. Tóm lại nói theo kiểu nhà nho thì trong một vấn đề, có ba yếu tố để dẫn đến sự thành công:

1. Thiên Thời: là cái chữ Thời, cái này có thể ví như đoạn ba người canh nồi bánh tét

2. Địa Lợi: Có thể ví như là sự cấu tạo của thể xác chai lỳ và đầy... khuyết tật này

3. Nhân Hòa: Là những kinh nghiệm về Phước Vô Lậu, cái mà hầu như đã bị thất truyền lâu rồi

Như vậy, xét lại ngay bản thân của mình thì ông thấy là hầu như là... không được gì hết. Do tình trạng này mà Đức Bổn Sư nhắc đi nhắc lại nhiều nhất là phải tinh tấn. Câu chú cuối cùng của Ngài là:

-- Các Pháp Hữu Vi đều Vô Thường, các ông cố gắng tu hành, các Đạo Sư chỉ là những người chỉ đường.

Như vậy, tác dụng của sự tinh tấn nó như thế nào.

11:25 AM 1/16/2007



Nồi bánh tét và Đạo Quả 5 (hết)

HL: Đã nói đến "Tinh Tấn" là nói đến một cách gián tiếp những khó khăn mà tu sĩ đã gặp phải trong lúc công phu tu tập. Muốn vượt qua những khó khăn này thì hành giả phải có một cái nền tảng vững chắc về lý do: Tại sao mình lại tu hành? Và đây cũng là câu chú thường ngày của tu sĩ. Sự suy nghĩ hàng ngày về sự cần thiết của vấn đề tu hành, sau một thời gian dài, sẽ tạo thành một áp lực trong nội tâm. Và chính cái áp lực này nó giúp cho hành giả tinh tấn tu hành trong mọi điều kiện. Và cũng nên nhấn mạnh với ông rằng: chữ "tinh tấn" ở đây không phải là sự tinh tấn của bất cứ ai mà đó là "Sự Tinh Tấn Của Một Đức Phật".

Nói rõ hơn một tý:

Khi một em bé học ở lớp 9/12 nói rằng:

-- Đây là một bài toán khó!

Và em bé đó lại cố gắng giải bài toán đó. Và khi "tinh tấn" làm như vậy thì ông cũng phải hiểu: Đây là sự tinh tấn của một em bé học lớp 9/12.

Khi em bé này học thành một Thạc Sĩ và than rằng:

-- Đây là một bài toán khó!

Và ông Thạc Sĩ này lại cố gắng giải cho ra bài toán thì ông phải hiểu: Đây là sự tinh tấn của một ông Thạc Sĩ. Nếu so sánh với sự tinh tấn hồi còn nhỏ thì sự tinh tấn vào lúc này nó ghê gớm hơn lúc xưa rất nhiều. Hành giả mà không cẩn thận ở chỗ này thì sẽ rất là thất vọng, và có thể dẫn đến vấn đề "bỏ cuộc" khi bỗng nhiên gặp phải khó khăn trên đường tu hành. Trong giai đoạn đầu thì cái lý do tu hành phải to hơn cái mục đích tu hành. Hiện tượng "Lý do to hơn mục đích này" phải được củng cố hằng ngày, lúc vào công phu và sau khi tu tập xong.

Một vài đề nghị về những lý do:

- Ba Má già rồi! Nếu có mệnh hệ nào thì mình làm chớ còn ai vào đây nữa!

- Ba Má lại bị thất lạc trong cõi Vô Minh thêm một lần nữa rồi: Người đi tìm các Ngài là mình chớ không còn ai khác cả!
- Ai cũng có Ba và Má, nhưng mình là đứa mồ côi: Mình phải tìm cho ra các Ngài để gọi là cám ơn.

Tác dụng của sự tinh tấn:

Trước hết, tinh tấn làm phát triển sự... "lắng nghe". Hiện tượng "nhìn vào bên trong" qua sự "lắng nghe" này, rất dể hiểu lầm. Trong cuốn sách "Đức Phật và Phật Pháp" của Narada, ông sẽ thấy câu này lập tới lập lui hoài:... "Lúc ấy, tư tưởng sau đây phát sanh đến tôi".

Sự hiểu lầm là ở chỗ này đây:

Sự xuất hiện của tư tưởng khi bị cảnh giới chi phối (hay bị nhập) là: Câu nói xuất hiện ra từ đằng sau ót.

Sự xuất hiện tư tưởng khi "tư duy" là một câu nói xuất hiện trong đầu mình.

Nhưng khi "nhập chánh định" thì tư tưởng lại "chạy xuyên từ bán cầu phải, qua bán cầu trái của não bộ".

Như vậy một hành giả với tâm "tinh tấn" thì tư tưởng chạy xuyên từ bên phải qua bên trái xảy ra rất là thường xuyên. Lần đầu tiên tui bị thì cũng hơi giật mình, nhưng sau đó thì lại quen đi. So sánh cái tỷ lệ đúng thì "tư tưởng xẹt qua xẹt lại" lại đúng với tỷ lệ khá cao: 98%, trong đó 2% sai số là do mình không giữ đúng giới luật.

Tư tưởng "bị nhập" (xuất hiện ở đằng sau ót) thì có thể đúng đến 70% là tối đa. Tư tưởng này trong giới lên đồng, thần quyền, xuất hồn, bùa ngải.

Còn tư duy của mình thì khỏi nói: khi trúng, khi trật, không biết đâu mà rờ. Như vậy, một người "tinh tấn" tu hành, khi có vấn đề thì sẽ đụng cái tư tưởng xẹt qua xẹt lại. Căn cứ vào hiện tượng vật lý này mà hành giả mới có thể quyết định bước kế tiếp là như thế nào.

Tinh tấn tu hành sẽ giúp cho hành giả có linh tính rất là bén nhậy và chính xác. Tinh tấn tu hành sẽ giúp cho hành giả gần kề với thiện trí thức (những người cùng với nhau tu hành), và khi bàn luận hữu ích thì hành giả cảm được mức độ "Đúng với chanh pháp" của câu chuyện.

Cái hết mức của "tinh tấn" sẽ dẫn đến sự xuất hiện như thật của các cõi giới: Rồng, Ma, Quỷ, Tiên, Bồ Tát, Thầy, Phật.

Như vậy, bằng chứng hiển nhiên là: Tu sĩ tinh tấn là tu sĩ không bao giờ cảm thấy cô đơn, lẻ loi, và hiện tượng "bị bỏ rơi".

Mến.

----------------------
Nguồn:  http://hoasentrenda.com/TapTin/TT3/tt3-41to80/67.htm
« Sửa lần cuối: Tháng Hai 15, 2010, 11:13:57 AM gửi bởi hstd » Logged
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2015, Simple Machines Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.033 seconds với 20 câu truy vấn.