Hoa Sen Trên Đá

An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt

22-09-2019, 10:23 AM *
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.

Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát
Nhập Cốc: người đang nhập cốc! Trong vòng 24 giờ có: 48 lượt nhập cốc.
Nhấp vào đây để Nhập Cốc.
   Diễn đàn   Tìm kiếm Đăng nhập Đăng ký  
Cỡ chữ: 19
Trang: [1]   Xuống
 
Chủ đề: Thiền Định và Thiền Tuệ...  (Đọc 1454 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem
TrieuTuLong
Full Member
***

Bài viết: 485



Xem hồ sơ cá nhân
Người gởi: TrieuTuLong
vào lúc: 30-08-2019, 04:54 PM

Copy ở đây để dành:

"Tìm hiểu PHÁP HÀNH THIỀN TUỆ •••Tỳ khưu HỘ PHÁP.


PHÁP HÀNH (BHĀVANĀ)
•••Pháp hành trong Phật giáo có 2 loại:
- Pháp hành thiền định (Samathabhāvanā).
- Pháp hành thiền tuệ (Vipassanābhāvanā).

I. PHÁP HÀNH THIỀN ĐỊNH (Samathabhāvanā)

Pháp hành thiền định là pháp hành làm cho tâm an trú trong một đề mục thiền định duy nhất, dẫn đến sự chứng đắc tuần tự 5 bậc thiền sắc giới, 4 bậc thiền vô sắc giới.

Pháp hành thiền định này đã có trước khi Đức Phật xuất hiện trên thế gian. Theo tiểu sử Đức Phật Gotama, khi còn là Đức Bồ Tát Siddhattha, Ngài đã từng thọ giáo với vị Đạo sư Ālāra Kalāmagotta về pháp hành thiền định, Ngài đã chứng đắc đến bậc thiền "Vô sở hữu xứ thiền"; và đã từng thọ giáo với vị Đạo sư Udaka Rāmaputta, Ngài đã chứng đắc đến bậc thiền "Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền" bậc thiền tột đỉnh của thiền vô sắc giới, cũng là tột đỉnh của thiền tam giới.

Như vậy, pháp hành thiền định có trong Phật giáo và cũng có ngoài Phật giáo.

*Định nghĩa thiền định:
Thiền định là định tâm trong một đề mục thiền định duy nhất làm đối tượng, có khả năng chế ngự, làm vắng lặng được 5 pháp chướng ngại (nivaraṇa), bằng 5 chi thiền, làm cho tâm an định vững chắc trong một đề mục thiền định ấy, dẫn đến sự chứng đắc tuần tự 5 bậc thiền sắc giới, 4 bậc thiền vô sắc giới.

Định tâm an trú trong bậc thiền, hành giả hưởng sự an lạc trong thiền định.

Những điểm đặc biệt trong phần định nghĩa

1- Định tâm trong một đối tượng thiền định.
2- Đối tượng thiền định.
3- Năm pháp chướng ngại.
4- Năm chi thiền.
5- Năm bậc thiền sắc giới.
6- Bốn bậc thiền vô sắc giới.
7- Quả báu của thiền định.


Phần Giải Thích:
1- Định Tâm Của Thiền Định

Thiền định có chi pháp là "nhất tâm tâm sở" [1] (ekaggatācetasika), gọi là định tâm.

Trong trường hợp hành giả tiến hành thiền định, nhất tâm tâm sở đóng vai trò chính yếu, làm cho tâm an trú trong một đề mục thiền định duy nhất làm đối tượng.

Định tâm trong một đề mục thiền định ấy, trải qua 3 giai đoạn như sau:

* Giai đoạn đầu: Nhất tâm tâm sở đồng sanh với 8 dục giới đại thiện tâm (hay dục giới đại duy tác tâm), làm phận sự định tâm tiến hành thiền định (parikammasamādhi), có đề mục tiến hành (parikammanimitta), và ấn chứng thô ảnh tương tự (ugghanimitta), làm đối tượng thiền định.

* Giai đoạn giữa: Nhất tâm tâm sở đồng sanh với 4 dục giới đại thiện tâm hợp trí tuệ (hay 4 dục giới đại duy tác tâm hợp với trí tuệ), làm phận sự cận định (upacārasamādhi) có ấn chứng quang ảnh trong sáng (paṭibhāganimitta), làm đối tượng thiền định.

* Giai đoạn cuối: Nhất tâm tâm sở đồng sanh với 5 sắc giới thiện tâm (hay 5 sắc giới duy tác tâm), làm phận sự an định vững chắc (appanāsamādhi) có ấn chứng quang ảnh trong sáng (paṭibhāganimitta) làm đối tượng thiền định.

* Và Nhất tâm tâm sở đồng sanh với 4 vô sắc giới thiện tâm (hay 4 vô sắc giới duy tác tâm), làm phận sự an định vững chắc (appanāsamādhi) có đề mục thiền vô sắc giới làm đối tượng.

Nhất tâm tâm sở này gọi là định tâm của thiền định.

2- Đối Tượng Của Thiền Định

Đối tượng của thiền định tất cả gồm có 40 đề mục:

- 10 đề mục hình tròn (kasiṇa).
- 10 đề mục tử thi bất tịnh (asubha).
- 10 đề mục tùy niệm (anussati).
- 4 đề mục tứ vô lượng tâm (appamaññā).
- 1 đề mục quán vật thực đáng nhờm (āhāre paṭikkūlasaññā).
- 1 đề mục phân tích tứ đại (catudhātuvavatthāna).
- 4 đề mục vô sắc giới (āruppa).

2.1- Mười đề mục hình tròn kasiṇa [2]

2.1.1- Đề mục đất: Dùng đất làm đối tượng thiền định.
2.1.2- Đề mục nước: Dùng nước làm đối tượng thiền định.
2.1.3- Đề mục lửa: Dùng lửa làm đối tượng thiền định.
2.1.4- Đề mục gió : Dùng gió làm đối tượng thiền định.

2.1.5-Đề mục màu xanh: Dùng màu xanh làm đối tượng thiền định.
2.1.6- Đề mục màu vàng: Dùng màu vàng làm đối tượng thiền định.
2.1.7- Đề mục màu đỏ: Dùng màu đỏ là đối tượng thiền định.
2.1.8- Đề mục màu trắng: Dùng màu trắng làm đối tượng thiền định.
2.1.9- Đề mục ánh sáng: Dùng ánh sáng làm đối tượng thiền định.
2.1.10- Đề mục hư không: Dùng hư không làm đối tượng thiền định.

Đó là 10 đề mục hình tròn kasiṇa, làm đối tượng thiền định.

2.2- Mười đề mục tử thi bất tịnh (asubha)

2.2.1- Đề mục tử thi trải qua 2-3 ngày, làm đối tượng thiền định.
2.2.2- Đề mục tử thi biến sang màu tím thâm, làm đối tượng thiền định.
2.2.3- Đề mục tử thi chảy máu mủ, làm đối tượng thiền định.
2.2.4- Đề mục tử thi bị chặt đứt ra thành nhiều đoạn, làm đối tượng thiền định.
2.2.5- Đề mục tử thi bị chó, quạ, diều hâu, kên kên, cắn xé bỏ rải rác, làm đối tượng thiền định
2.2.6- Đề mục tử thi bị chặt tay, chân, đầu, mình bỏ rải rác, làm đối tượng thiền định.
2.2.7- Đề mục tử thi bị đâm lủng nhiều lỗ, làm đối tượng thiền định.
2.2.8- Đề mục tử thi có máu chảy lai láng, làm đối tượng thiền định.
2.2.9- Đề mục tử thi có giòi, làm đối tượng thiền định.
2.2.10- Đề mục tử thi còn bộ xương trắng, làm đối tượng thiền định.

Đó là 10 đề mục tử thi bất tịnh, làm đối tượng thiền định.

2.3- Mười đề mục tùy niệm (anussati)

2.3.1- Đề mục niệm 9 Ân Đức Phật.
2.3.2- Đề mục niệm 6 Ân Đức Pháp.
2.3.3- Đề mục niệm 9 Ân Đức Tăng.
2.3.4- Đề mục niệm về giới trong sạch của mình.
2.3.5- Đề mục niệm về sự bố thí của mình.
2.3.6- Đề mục niệm về 5 pháp của chư thiên có nơi mình.
2.3.7- Đề mục niệm về sự chết.
2.3.8- Đề mục niệm về 32 thể trược.
2.3.9- Đề mục niệm về trạng thái tịch tịnh an lạc Niết Bàn.
2.3.10- Đề mục niệm hơi thở vô – hơi thở ra.

Đó là 10 đề mục tùy niệm, làm đối tượng thiền định.

2.4- Bốn đề mục tứ vô lượng tâm (appamaññā)

2.4.1- Đề mục niệm rải tâm từ, chọn chúng sinh đáng yêu, làm đối tượng thiền định.
2.4.2- Đề mục niệm rải tâm bi, chọn chúng sinh đang khổ, làm đối tượng thiền định.
2.4.3- Đề mục niệm rải tâm hỉ, chọn chúng sinh đang hưỡng sự an lạc hạnh phúc, làm đối tượng thiền định.
2.4.4- Đề mục niệm rải tâm xả, chọn chúng sinh có nghiệp là của riêng mình, làm đối tượng thiền định.

Đó là 4 đề mục tứ vô lượng tâm, làm đối tượng thiền định.

2.5- Một đề mục quán vật thực bất tịnh, làm đối tượng thiền định.

2.6- Một đề mục phân tích tứ đại: đất, nước, gió, lửa, làm đối tượng thiền định.

2.7- Bốn đề mục vô sắc giới riêng biệt của 4 bậc thiền vô sắc giới

2.7.1- Hư không vô biên làm đối tượng thiền định của không vô biên xứ thiền.
2.7.2- Thứ vô biên (tâm không vô biên xứ thiền) làm đối tượng thiền định của thức vô biên xứ thiền.
2.7.3- Vô sở hữu làm đối tượng thiền định của vô sở hữu xứ thiền.
2.7.4- Rất vắng lặng, rất vi tế của tâm vô sở hữu xứ thiền làm đối tượng thiền định của phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền.

Đó là 4 đề mục thiền vô sắc giới, làm đối tượng thiền định.

Pháp hành thiền định gồm 40 đề mục, khi hành giả tiến hành thiền định chỉ có thể chọn 1 trong 36 đề mục thuộc về thiền sắc giới. Còn 4 đề mục thuộc thiền vô sắc giới, hành giả sau khi đã chứng đắc 5 bậc thiền sắc giới xong rồi, mới tiếp tục tiến hành thiền vô sắc giới. Thiền vô sắc giới có 4 bậc, mỗi bậc thiền có đối tượng riêng biệt tuần tự từ thấp đến cao.

Muốn cho sự tiến hành thiền định được phát triển tốt, hành giả cần phải biết chọn đề mục thích hợp với bản tánh riêng của mình. Đó là điều trọng yếu đối với hành giả.


=====================
***Sáu loại tánh của hành giả hành thiền định:

Hành giả nói chung có 6 loại tánh (carita).

1- Rāgacarita: Tánh tham dục.
2- Dosacarita: Tánh sân hận.
3- Mohacarita: Tánh si mê.
4- Vitakkacarita: Tánh suy diễn.
5- Saddhācarita: Tánh tín.
6- Buddhicarita: Tánh giác.

Trong một người có thể có nhiều tánh kể trên, song có một tánh nào đó dễ phát sanh, thường phát sanh nhiều hơn các tánh khác, nên gọi người ấy có tánh ấy.

Đề mục thiền định thích hợp và không thích hợp với mỗi tánh của hành giả

1- Tánh tham dục (rāgacarita): Người nào thường phát sanh tâm tham dục trong những đối tượng đáng hài lòng, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh tham dục.

Hành giả có tánh tham dục, nếu tiến hành thiền định trong 8 đề mục như sau:

- 4 Đề mục tứ vô lượng tâm.
- 4 Đề mục màu sắc (xanh, vàng, đỏ, trắng).

Những đề mục này làm cho tâm tham dục càng tăng trưởng, đồng thời thiền định không thể phát triển được.

Vì vậy, 8 đề mục thiền định này không thích hợp đối với hành giả có tánh tham dục.

Hành giả có tánh tham dục nên tiến hành thiền định trong 11 đề mục như sau:

- 10 Đề mục tử thi bất tịnh.
- 1 Đề mục niẹm 32 thể trược trong thân.

Những đề mục này làm cho vắng lặng được tâm tham dục, đồng thời làm cho thiền định có thể phát triển.

Vì vậy, 11 đề mục thiền định này thích hợp với hành giả có tánh tham dục.

2- Tánh sân hận (dosacarita): Người nào thường phát sanh tâm sân hận, nóng nảy, bực bội trong những đối tượng không đáng hài lòng, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh sân han.

Hành giả có tánh sân hận, nếu tiến hành thiền định trong 11 đề mục như sau:

- 10 Đề mục tử thi bất tịnh.
- 1 Đề mục niẹm 32 thể trược trong thân.

Những đề mục này làm cho tâm sân hận càng tăng trưởng, đồng thời thiền định không thể phát triển lên được.

Vì vậy, 11 đề mục thiền định này không thích hợp đối với hành giả có tánh sân hận.

Hành giả có tánh sân hận nên tiến hành thiền định trong 8 đề mục như sau:

- 4 Đề mục tứ vô lượng tâm.
- 4 Đề mục màu sắc (xanh, vàng, đỏ, trắng).

Những đề mục này làm cho vắng lặng được tâm sân hận, đồng thời làm cho thiền định có thể phát triển.

Vì vậy, 8 đề mục thiền định này thích hợp với hành giả có tánh sân hận.

3- Tánh si mê (mohacarita): Người nào thường phát sanh tâm si mê, phóng tâm và hoài nghi trong các pháp, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh si mê.

Hành giả có tánh si mê, nếu tiến hành thiền định trong 4 đề mục như sau:

- Đề mục niệm về chết.
- Đề mục niệm về trạng thái tịch tịnh an lạc Niết Bàn.
- Đề mục quán tưởng vật thực bất tịnh.
- Đề mục quán xét phân tích tứ đại: đất, nước, lửa, gió.

Những đề mục này rất vi tế sâu sắc, khó mà thấy rõ được, thì chỉ làm cho tâm si mê càng thêm tối tăm, đồng thời thiền định không thể phát triển được.

Vì vậy, 4 đề mục thiền định này không thích hợp đối với hành giả có tánh si mê.

Hành giả có tánh si mê nên tiến hành thiền định đề mục niệm hơi thở vô – hơi thở ra rõ ràng không có gì đáng hoài nghi cả. Đề mục này có thể làm cho vắng lặng được tâm si mê, đồng thời làm cho thiền định có thể phát triển.

Vì vậy, đề mục thiền định niệm hơi thở vô – hơi thở ra này thích hợp với hành giả có tánh si mê.

4- Tánh suy diễn (vitakkacarita): Người nào thường suy diễn lung tung, nói năng đủ chuyện, làm việc gì cũng không đến nơi đến chốn…, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh suy diễn.

Hành giả có tánh suy diễn, nếu tiến hành thiền định trong 4 đề mục như sau:

- Đề mục niệm về chết.
- Đề mục niệm về trạng thái tịch tịnh an lạc Niết Bàn.
- Đề mục quán tưởng vật thực bất tịnh.
- Đề mục quán xét phân tích tứ đại: đất, nước, lửa, gió.

Những đề mục này rất vi tế sâu sắc, khó mà thấy rõ được, thì chỉ làm cho tâm suy diễn lung tung thêm, đồng thời thiền định không thể phát triển được.

Vì vậy, 4 đề mục thiền định này không thích hợp đối với hành giả có tánh suy diễn.

Hành giả có tánh suy diễn nên tiến hành thiền định đề mục niệm hơi thở vô – hơi thở ra rõ ràng không có gì đáng suy diễn nhiều. Đề mục này có thể làm cho vắng lặng được suy nghĩ mung lung, đồng thời làm cho thiền định có thể phát triển.

Vì vậy, đề mục thiền định niệm hơi thở vô – hơi thở ra này thích hợp với hành giả có tánh suy diễn.

5- Tánh tín (saddhācarita): Người nào thường có đức tin trong sạch nơi Tam bảo: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, tin phước, tin tội, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh tín.

Hành giả có tánh tín nên tiến hành thiền định trong 6 đề mục như sau:

- Niệm Ân 9 Đức Phật.
- Niệm Ân 6 Đức Pháp.
- Niệm Ân 9 Đức Tăng.
- Niệm về giới trong sạch của mình.
- Niệm về sự bố thí của mình.
- Niệm về 5 pháp của chư thiên có nơi mình,

Những đề mục này rất thích hợp với hành giả có tánh tín, càng làm cho đức tin được tăng trưởng.

6- Tánh giác (buddhicarita): Người nào thường có trí tuệ quán xét các pháp vi tế sâu sắc, hơn các tính khác, người ấy gọi là người có tánh giác.

Hành giả có tánh giác nên tiến hành thiền định trong 4 đề mục như sau:

- Niệm về sự chết.
- Niệm về trạng thái tịch tịnh an lạc Niết Bàn.
- Quán tưởng về đề mục vật thực bất tịnh.
- Quán xét phân tích đề mục tứ đại: đất, nước, lửa, gió,

Những đề mục này rất vi tế, sâu sắc, thích hợp với hành giả có tánh giác, để làm cho trí tuệ tăng trưởng sâu sắc thêm nhiều.

Đề mục thiền định thích hợp cả 6 tánh

Những đề mục thiền định thích hợp cho tất cả 6 tánh hành giả như sau:

- 6 Đề mục hình tròn kasiṇa: đất, nước, lửa, gió, ánh sáng, hư không.
- 4 Đề mục vô sắc giới.

Những đề mục này thích hợp cho tất cả mọi hành giả, không phân biệt tánh nào.

Đặc biệt, đối với hành giả có tánh si mê, nếu tiến hành đề mục hình tròn kasiṇa đất,… nên làm hình tròn đường kính rộng hơn bình thường, so với các hành giả khác, để tâm trí không bị khó chịu, hay quên, phóng tâm. Và đối với hành giả có tánh suy diễn, nếu tiến hành đề mục hình tròn kasiṇa đất,… nên làm hình tròn đường kính hẹp hơn bình thường, so với các hành giả khác, để tâm an trú trong đề mục hình tròn kasiṇa dễ dàng.



=========≠========
**Phân Loại 40 Đề Mục Thiền Định Theo Các Bậc Thiền

Phân loại các đề mục thiền định theo khả năng của mỗi đề mục như sau:

* 10 đề mục đạt đến cận định (upacārasamādhi):

1- Đề mục niệm 9 Ân Đức Phật.
2- Đề mục niệm 6 Ân Đức Pháp.
3- Đề mục niệm 9 Ân Đức Tăng.
4- Đề mục niệm về giới trong sạch của mình.
5- Đề mục niệm về bố thí của mình.
6- Đề mục niệm về 5 pháp của chư thiên có ở nơi mình.
7- Đề mục niệm về sự chết.
8- Đề mục trạng thái an lạc tịch tịnh Niết Bàn.
9- Đề mục quán vật thực bất tịnh.
10- Đề mục quán xét phân tích tứ đại: đất, nước, lửa, gió.

10 đề mục thiền định này, có đối tượng là Chân nghĩa pháp vô cùng vi tế, sâu sắc, ý nghĩa rộng mênh mông, bao la, nên tâm không thể an trú vững chắc nơi đối tượng được.

Do đó, 10 đối tượng thiền định này chỉ có khả năng đạt đến cận định (upacārasamādhi), không thể đạt đến an định (appanāsamādhi) nên không thể chứng đắc được bậc thiền nào.

* 11 Đề mục chứng đắc đệ nhất thiền sắc giới:

- 10 Đề mục tử thi bất tịnh.
- 1 Đề mục niệm 32 thể trược trong thân.

11 đề mục thiền định này rất thô, bất tịnh đáng ghê tởm. Khi hành giả tiến hành thiền định 1 trong 11 đề mục này, cần phải có chi thiền vitakka: hướng tâm đến đối tượng.

Do đó, 11 đề mục thiền định này chỉ có khả năng chứng đắc đệ nhất thiền sắc giới, mà không thể chứng đắc các bậc thiền sắc giới cao hơn.

* 3 đề mục vô lượng tâm, chứng đắc 4 bậc thiền sắc giới:

1- Đề mục niệm rải tâm từ, đến với chúng sinh đáng yêu, đáng kính mến.
2- Đề mục niệm rải tâm bi, đến với chúng sinh đang đau khổ, mong cứu khổ.
3- Đề mục niệm rải tâm hỉ, đến với chúng sinh đang hưởng hạnh phúc, an lạc.

3 đề mục vô lượng tâm này chỉ có khả năng chứng đắc được từ đệ nhất thiền cho đến đệ tứ thiền sắc giới. Nhưng không thể chứng đắc đến đệ ngũ thiền sắc giới. Vì 3 đề mục thiền định này luôn luôn tùy thuộc vào thọ hỉ (somanassavedanā) liên quan đến chi thiền "lạc" (sukha). Còn đệ ngũ thiền sắc giới, thì phải diệt chi thiền lạc thay vào chi thiền "xả" (upekkhā) và nhất tâm.

Do đó, 3 đề mục vô lượng tâm này không thể chứng đắc đệ ngũ thiền sắc giới.

* Đề mục niệm rải tâm xả, chứng đắc đệ ngũ thiền:

Sau khi hành giả tiến hành 1 trong 3 đề mục vô lượng tâm: niệm rải tâm từ, hoặc niệm rải tâm bi, hoặc niệm rải tâm hỉ, một khi đã chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc giới đến đệ tứ thiền sắc giới rồi, muốn chứng đắc đệ ngũ thiền sắc giới, hành giả cần phải thay đổi sang đề mục "niệm rải tâm xả đến với chúng sinh có nghiệp là của riêng mình". Vì đệ ngũ thiền sắc giới luôn luôn tùy thuộc vào thọ xả, liên quan đến chi thiền "xả" (upekkhā). Do đó, hành giả chỉ có niệm rải tâm xả đến cho tất cả chúng sinh có nghiệp là của riêng mình, cho đến khi chứng đắc đệ ngũ thiền sắc giới.

Đề mục niệm rải tâm xả này, chỉ có khả năng đặc biệt chứng đắc đệ ngũ thiền sắc giới bậc cao nhất mà thôi, không thể chứng đắc thiền sắc giới bậc thấp. Vì vậy, hành giả không thể bắt đầu tiến hành thiền định với đề mục "niệm rải tâm xả" mà chỉ tiến hành sau khi đã chứng đắc đến đệ tứ thiền sắc giới với 1 trong 3 đề mục vô lượng tâm: niệm rải tâm từ, hoặc niệm rải tâm bi, hoặc niệm rải tâm hỉ.

* 11 đề mục chứng đắc các bậc thiền sắc giới:

- 10 Đề mục hình tròn kasiṇa.
- 1 Đề mục niệm hơi thở vô – hơi thở ra.

Hành giả tiến hành thiền định 1 trong 11 đề mục thiền định này, có khả năng chứng đắc tuần tự từ đệ nhất thiền sắc giới cho đến đệ ngũ thiền sắc giới. Cho nên hành giả không cần phải thay đổi sang đề mục thiền định nào khác.

* 4 đề mục thiền vô sắc giới.

Bốn đề mục thiền vô sắc giới, cứ mỗi đề mục, chỉ có khả năng chứng đắc mỗi bậc thiền vô sắc giới riêng biệt, theo tuần tự từ thấp đến cao như sau:

1- Đề mục "ākāso ananto…": "hư không vô biên…" làm đối tượng để chứng đắc đệ nhất thiền vô sắc giới gọi là "Không vô biên xứ thiền".

2- Đề mục "viññāṇaṃ anantaṃ…": "thức vô biên…" (tâm không vô biên xứ thiền) làm đối tượng, để chứng đắc đệ nhị thiền vô sắc giới gọi là "Thức vô biên xứ thiền".

3- Đề mục "natthi kiñci…": "vô sở hữu: không có gì…" làm đối tượng để chứng đắc đệ tam thiền vô sắc giới gọi là "Vô sở hữu xứ thiền".

4- Đề mục "santaṃ… paṇitaṃ…": "rất vắng lặng, rất vi tế" của vô sở hữu xứ thiền làm đối tượng, để chứng đắc đệ tứ thiền vô sắc giới gọi là "Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền".

Bốn đề mục thiền vô sắc giới này, chỉ có thể tiến hành sau khi hành giả đã chứng đắc xong 5 bậc thiền sắc giới.

Khi hành giả đã chứng đắc đến đệ ngũ thiền sắc giới xong rồi, muốn tiếp tục chứng đắc thiền vô sắc giới, bắt buộc hành giả phải tiến hành mỗi đề mục thiền vô sắc giới tuần tự từ thấp đến cao. Cứ mỗi đề mục vô sắc giới, chỉ có khả năng chứng đắc mỗi bậc thiền vô sắc giới riêng biệt theo tuần tự trước sau mà thôi.

3- Năm pháp chướng ngại (Nivaraṇa)

Thiền định không thể phát triển được là do 5 pháp chướng ngại (nivaraṇa). 5 pháp này là những phiền não làm cho tâm ô nhiễm, tâm không thể an trú trong một đề mục thiền định nào làm đối tượng.

Năm pháp chướng ngại (nivaraṇa) là:

1- Kāmacchanda: Tham dục, là tâm tham muốn trong ngũ dục (sắc, thanh, hương, vị, xúc).

2- Byāpāda: Sân hận, là tâm sân, thù hận làm cho bực bội khó chịu, nóng nảy trong tâm.

3- Thīna-middha: Buồn chán-buồn ngủ, là 2 tâm sở làm cho tâm thoái chí, buông bỏ đối tượng, không muốn tiến hành thiền định.

4- Uddhacca-kukkucca: Phóng tâm-hối hận, là 2 tâm sở làm cho tâm không thể an trú trong đối tượng thiền định. Như phóng tâm nghĩ chuyện này chuyện khác và tâm hối hận nghiệp ác đã làm, còn nghiệp thiện không làm.

5- Vicikicchā: Hoài nghi, là tâm hoài nghi, không có đức tin vững chắc nơi Tam bảo, hoặc nơi nghiệp và quả của nghiệp, nhất là còn nghi ngờ trong pháp hành thiền định….

Đó là 5 pháp chướng ngại làm cản trở việc tiến hành thiền định, làm cho tâm không thể an trú trong đề mục thiền định duy nhất nào làm đối tượng.

Muốn chế ngự, đè nén 5 pháp chướng ngại này cần phải nhờ đến 5 chi thiền.

4- Năm chi thiền (jhānaṅga)

Năm chi thiền đó là 5 tâm sở đồng sanh trong đệ nhất thiền sắc giới tâm, có khả năng chế ngự được 5 pháp chướng ngại.

Năm chi thiền là:

1- Vitakka: Hướng tâm đến một đề mục thiền định duy nhất làm đối tượng.
2- Vicāra: Quan sát đối tượng ấy.
3- Pīti: Hỉ, tâm hoan hỉ phát sanh do tâm an trú trong đối tượng ấy.
4- Sukha: Thọ lạc, phát sanh do tâm an trú trong đối tượng ấy.
5- Ekaggatā: Nhất tâm, định tâm an trú vững chắc trong đối tượng ấy.

Đó là 5 chi thiền đồng sanh trong đệ nhất thiền sắc giới tâm.

5 chi thiền chế ngự 5 pháp chướng ngại

Trong đệ nhất thiền sắc giới tâm có 5 chi thiền, có khả năng chế ngự được 5 pháp chướng ngại như sau:

1- Vitakka: Chi thiền hướng tâm tâm sở, có khả năng chế ngự được tâm buồn chán-buồn ngủ (thīna-middha).

2- Vicāra: Chi thiền quan sát tâm sở, có khả năng chế ngự được tâm hoài nghi (vicikicchā).

3- Pīti: Chi thiền hỉ tâm sở, có khả năng chế ngự được tâm sân hận (byāpāda).

4- Sukha: Chi thiền thọ lạc tâm sở, có khả năng chế ngự được phóng tâm-hối hận (uddhacca-kukkucca).

5- Ekaggatā: Chi thiền nhất tâm tâm sở, có khả năng chế ngự được tâm tham dục (kāmacchanda).

5- Năm bậc thiền sắc giới

Thiền sắc giới có 5 bậc thiền có thể phát sanh cùng trong một đề mục thiền định, hay cũng có thể khác đề mục thiền định làm đối tượng. Nhưng điều chắc chắn 5 bậc thiền sắc giới khác nhau về các chi thiền như sau:

1- Đệ nhất thiền sắc giới có 5 chi thiền là: vitakka, vicāra, pīti, sukha, ekaggatà.

2- Đệ nhị thiền sắc giới do diệt được chi thiền vitakka, nên còn lại 4 chi thiền là: vicāra, pīti, sukha, ekaggatā.

3- Đệ tam thiền sắc giới do diệt được chi thiền vicāra, nên còn lại 3 chi thiền là: pīti, sukha, ekaggatā.

4- Đệ tứ thiền sắc giới do diệt được chi thiền pīti, nên còn lại 2 chi thiền là: sukha, ekaggatā.

5- Đệ ngũ thiền sắc giới do diệt được chi thiền sukha, thay bằng chi thiền upekkhā, nên cũng có 2 chi thiền là: upekkhā, ekaggatā.

Thiền sắc giới theo Kinh tạng thường có bốn bậc thiền, điểm đặc biệt ở đệ nhị thiền sắc giới do có khả năng diệt được 2 chi thiền cùng một lúc. Do đó, thiền sắc giới có 4 bậc thiền như sau:

1- Đệ nhất thiền sắc giới có 5 chi thiền là: vitakka, vicāra, pīti, sukha, ekaggatā.

2- Đệ nhị thiền sắc giới do diệt được 2 chi thiền vitakka, vicāra, nên còn có 3 chi thiền là: pīti, sukha, ekaggatā.

3- Đệ tam thiền sắc giới do diệt được chi thiền pīti, nên còn có 2 chi thiền là: sukha, ekaggatā.

4- Đệ tứ thiền sắc giới do diệt được chi thiền sukha, thay bằng chi thiền upekkhā, nên cũng có 2 chi thiền là: upekkhā, ekaggatā.

Sự khác biệt giữa các bậc thiền sắc giới là ở chi thiền, nhưng có thể giống nhau ở đề mục thiền định làm đối tượng. Nếu những đề mục thiền định ấy có khả năng chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc giới đến đệ ngũ thiền sắc giới.

Trường hợp những đề mục thiền định chỉ có khả năng chứng đắc đệ nhất thiền sắc giới mà thôi, hay có khả năng chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc giới, cho đến đệ tứ thiền sắc giới, hành giả muốn chứng đắc bậc thiền sắc giới cao hơn, cần phải thay đổi sang đề mục thiền định khác, có khả năng chứng đắc bậc thiền sắc giới cao hơn nữa.

6- Bốn bậc thiền vô sắc giới

Sau khi hành giả đã chứng đắc qua 5 bậc thiền sắc giới xong rồi, muốn tiếp tục tiến hành thiền định để chứng đắc các bậc thiền vô sắc giới, hành giả cần phải thay đổi sang đề mục thiền vô sắc giới.

Thiền vô sắc giới có 4 bậc thiền, cứ mỗi bậc thiền vô sắc giới, có mỗi đề mục riêng biệt của bậc thiền ấy.

Bốn bậc thiền vô sắc giới là:

1- Đệ nhất thiền vô sắc giới, gọi là: "Không vô biên xứ thiền" có 2 chi thiền là: upekkhā và ekaggatā. Có đề mục "hư không vô biên" làm đối tượng.

2- Đệ nhị thiền vô sắc giới, gọi là: "Thức vô biên xứ thiền" có 2 chi thiền là: upekkhā và ekaggatā. Có đề mục "thức vô biên (tâm không vô biên xứ thiền)" làm đối tượng.

3- Đệ tam thiền vô sắc giới, gọi là: "Vô sở hữu xứ thiền" có 2 chi thiền là: upekkhā và ekaggatā. Có đề mục "vô sở hữu" làm đối tượng.

4- Đệ tứ thiền vô sắc giới, gọi là: "Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền" có 2 chi thiền là: upekkhā và ekaggatā. Có đề mục "rất vắng lặng, rất vi tế" của vô sở hữu xứ thiền làm đối tượng.

Đó là 4 bậc thiền vô sắc giới, cứ mỗi bậc thiền vô sắc giới có mỗi đề mục khác nhau, nhưng 4 bậc thiền vô sắc giới đều giống nhau về chi thiền là: upekkhā và ekaggatā.

Điểm khác biệt giữa thiền sắc giới và thiền vô sắc giới:

- Năm bậc thiền sắc giới có chi thiền hoàn toàn khác nhau, về đề mục giống nhau cũng có và khác nhau cũng có.

- Bốn bậc thiền vô sắc giới có 2 chi thiền hoàn toàn giống nhau, nhưng mỗi bậc thiền vô sắc giới có đối tượng hoàn toàn khác nhau.

======================
***Điều Nên Biết Về Tiến Hành Thiền Định

Hành giả mong muốn tiến hành thiền định, nên biết những điều quan trọng sau đây:

- Hành giả nên tìm một vị Thiền sư thông thạo về pháp học và giàu kinh nghiệm về pháp hành thiền định, để nương nhờ học hỏi trực tiếp, và trình pháp thiền của mình suốt thời gian tiến hành thiền định, để tránh sai lầm trong pháp hành thiền định.

- Nếu tự mình có khả năng tự chọn một đề mục thiền định thích hợp với bản tánh riêng của mình, bằng không, nên nhờ vị Thiền sư chọn giúp đề mục thiền định thích hợp.

Điều này rất quan trọng, nếu hành giả chọn đề mục không thích hợp với bản tánh riêng của mình, thì sự tiến hành thiền định khó phát triển tốt được. Khi hành giả chọn đúng đề mục thiền định thích hợp, thì sự tiến hành thiền định được thuận lợi, dễ dàng phát triển tốt.

Đó quả là điều khó khăn, vì ngoài Đức Phật ra, không có vị Thiền sư nào có khả năng biết được căn duyên của hành giả, nên việc chọn đúng đề mục thiền định thích hợp với căn duyên của hành giả là điều không phải dễ.

- Hành giả phải có giới đức trong sạch làm nền tảng để tiến hành thiền định, mới được phát triển tốt. Cũng giống như cây được phát triển tốt là do nương nhờ ở đất tốt.

- Sau khi đã chọn được đề mục thiền định thích hợp với bản tánh riêng của mình, hành giả nên tìm một nơi thanh vắng, yên tĩnh để tiến hành thiền định.

- Buổi ban đầu, hành giả phải nên thường gần gũi thân cận với vị Thiền sư giàu kinh nghiệm về pháp hành thiền định, để trình pháp: là trình những hiện tượng, những ấn chứng phát sanh lên với hành giả chưa từng thấy trước đây, để cho vị Thiền sư nhận xét đúng hay sai rồi chỉ dẫn tiếp tục sự tiến hành thiền định. Nếu không có sự hướng dẫn trực tiếp của vị Thiền sư thì dễ sanh sự hoài nghi, có thể làm chướng ngại việc tiến hành thiền định của hành giả.

===================

Tập sách nhỏ này đề cập đến vấn đề "Tìm hiểu về pháp hành thiền tuệ" không phải pháp hành thiền định. Song pháp hành thiền định được nêu ra, để có sự nhận xét so sánh; để phân biệt sự khác nhau giữa pháp hành thiền định và pháp hành thiền tuệ; để hiểu biết, hỗ trợ lẫn nhau giữa hai pháp hành.

Nếu hành giả muốn tiến hành thiền định, nên học hỏi nghiên cứu ở bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), phần thiền định, để tìm hiểu rõ ràng hơn.


7- Quả Báu Của Thiền Định

Hành giả tiến hành thiền định, đã chứng đắc được các bậc thiền sắc giới, các bậc thiền vô sắc giới nào rồi, hành giả sẽ hưởng được nhiều quả báu ngay cả trong kiếp hiện tại lẫn kiếp vị lai như sau:

1- Nhập định để hưởng sự an lạc trong kiếp hiện tại.

2- Chứng đắc được bát thiền có khả năng luyện Ngũ thông (Abhiññā).

3- Bậc thiền làm nền tảng để tiến hành thiền tuệ.

4- Bậc thiền hỗ trợ bậc Thánh nhân nhập Thánh Quả định.

5- Bát thiền hỗ trợ bậc Thánh Bất Lai, bậc Thánh Arahán nhập Diệt thọ tưởng định.

6- Quả báu tái sanh kiếp sau.


7.1- Nhập định để hưởng sự an lạc trong kiếp hiện tại (jhānasamāpatti)

Hành giả đã chứng đắc bậc thiền nào rồi, và đã thường quen tập luyện 5 pháp thuần thục (vasī):

1- Āvajjanavasī: Thuần thục trong sự quán xét chi thiền do ý môn hướng tâm.

2- Samāpajjanavasī: Thuần thục trong việc nhập định.

3- Adhiṭṭhānavasī: Thuần thục việc phát nguyện thời gian nhập định.

4- Vuṭṭhānavasī: Thuần thục việc xả định theo thời gian.

5- Paccavekkhaṇavasī: Thuần thục trong việc quán xét chi thiền do tác hành tâm (javanacitta).

Hành giả có 5 pháp thuần tục, có thể nhập định ở bậc thiền nào đã chứng đắc, để hưởng an lạc ở kiếp hiện tại, trong một thời gian suốt 1 giờ hay 2-3 giờ theo ý muốn của hành giả. Nếu đã chứng đắc tất cả các bậc thiền sắc giới, thiền vô sắc giới, thì hành giảcó thể nhập định bậc thiền nào, mà hành giả muốn.

Ví dụ:

Hành giả đã chứng đắc từ đệ nhất thiền sắc giới đến đệ ngũ thiền sắc giới. Nay hành giả phát nguyện muốn nhập định ở đệ nhị thiền sắc giới, thì hành giả luyện 5 pháp thuần thục rồi nhập định theo lộ trình đệ nhị thiền sắc giới như sau:

Đồ biểu lộ trình tâm nhập thiền định: Jhānasamāpattivīthi

 

Giải Thích:

    viết tắt
1- Bhavaṅgacitta  Hộ kiếp tâm bha
2- Bhavaṅgacalana  Hộ kiếp tâm bị rung động na
3- Bhavaṅgupaccheda  Hộ kiếp tâm bị cắt đứt da
4- Manodvāravajjanacitta  Ý môn hướng tâm ma
5- Parikamma  Chuẩn bị đệ nhị thiền phát sanh pari
6- Upacāra  Cận thiền tâm upa
7- Anuloma  Thuận dòng thiền tâm anu
8- Gotrabhu  Chuyển dục giới tâm sang sắc giới tâm got
9- Dutiyajjhānacitta  Đệ nhị thiền sắc giới tâm jhā
10- Bhavaṅgacitta  Hộ kiếp tâm bha
Hành giả đã nhập định đệ nhị thiền sắc giới, thì đệ nhị thiền sắc giới tâm phát sanh liên tục trong suốt thời gian mà hành giả đã phát nguyện, có thể suốt 1 giờ hoặc 2-3 giờ theo ý muốn của mình.

Trong khi nhập định, chỉ có thiền tâm phát sanh theo ý môn lộ trình thiền tâm mà thôi. Ngoài ra, các loại tâm khác không phát sanh ở các môn khác, nên hành giả không thấy sắc, không nghe tiếng, không ngửi mùi, không nếm vị, không biết tiếp xúc nóng lạnh, mà chỉ có thiền tâm phát sanh liên tục, hành giả hưởng được sự an lạc trong bậc thiền ấy cho đến khi hết thời gian phát nguyện. Khi ấy, hộ kiếp tâm phát sanh, chấm dứt lộ trình tâm nhập định. Hành giả trở lại cuộc sống bình thường. Nhãn thức tâm nhìn thấy sắc trần; nhĩ thức tâm nghe thanh trần, tỷ thức tâm ngửi hương trần; thiệt thức tâm nếm vị trần; thân thức tâm tiếp xúc trần và ý thức tâm biết pháp trần.

7.2- Bát thiền, luyện Ngũ thông (Abhiññā)

Hành giả chứng đắc được tứ thiền sắc giới và tứ thiền vô sắc giới, có thể luyện Ngũ thông (Abhiññā).

Thế gian thần thông (Lokiya abhiññā) có 5 loại:

1- Iddhividha abhiññā: Thần túc thông: là thần thông có thể biến hóa một người thành ra cả ngàn người; hiện thân đến nơi khác; tàng hình không ai thấy; xuyên qua núi; hóa mặt đất thành biển, hoá biển thành mặt đất, thăng thiên, độn thổ, hóa ra người già, chư thiên, voi, ngựa, cọp,….

2- Dibbacakkhu abhiññā: Thiên nhãn thông, là thần thông có thể thấy khắp mọi nơi; thấy các cõi trời dục giới, sắc giới, thấy ngạ quỷ, atula, địa ngục. Và còn có thể thấy những gì đã xảy ra trong quá khứ, sẽ xảy ra trong vị lai….

3- Dibbasota abhiññā: Thiên nhĩ thông, là thần thông có thể nghe được các thứ tiếng từ xa khắp mọi nơi….

4- Pubbenivāsānussati abhiññā: Túc mạng thông, là thần thông có thể nhớ rõ những kiếp trong quá khứ, đủ mọi chi tiết, kiếp trước sanh làm loại chúng sinh nào, tên, dòng họ, tạo nghiệp gì….

5- Paracittavijānana abhiññā: Tha tâm thông, là thần thông có thể biết rõ được ý nghĩ của người khác, chúng sinh khác.

Năm loại thần thông này thuộc thế gian.

7.3- Bậc thiền làm nền tảng để tiến hành thiền tuệ

Hành giả đã chứng đắc được bậc thiền nào, hành giả xả bậc thiền ấy ra rồi dùng bậc thiền ấy làm nền tảng để tiến hành thiền tuệ. Nghĩa là dùng chi thiền hay bậc thiền tâm ấy làm đối tượng của thiền tuệ.

- Thiền tâm, hay chi thiền ấy thuộc về danh pháp.

- Sắc ý căn (hadayavatthu) nơi nương nhờ phát sanh thiền tâm cùng chi thiền ấy thuộc về sắc pháp.

Hành giả tiến hành thiền tuệ, đến khi phát sanh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp ấy sanh rồi diệt, hiện thấy rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Đạo, Thánh Quả theo bậc thiền ấy. Bậc thiền tâm ấy trở thành "siêu tam giới thiền tâm" vì có Niết Bàn làm đối tượng.

Do đó siêu tam giới thiền tâm có 5 bậc thiền, từ đệ nhất thiền đến đệ ngũ thiền, vì đặc biệt có Niết Bàn siêu tam giới làm đối tượng thiền tuệ.

7.4- Bậc thiền hỗ trợ bậc Thánh nhân nhập Thánh Quả Định (phalasammāpatti)

Hành giả là bậc Thánh nhân đã chứng đắc thiền định có thể nhập Thánh Quả Định bậc cao cuối cùng, để hưởng sự an lạc tịch tịnh Niết Bàn suốt thời gian phát nguyện 1 giờ hay 2-3 giờ tuỳ theo ý muốn của hành giả.

Ví dụ:

Bậc Thánh Arahán đã chứng đắc đệ ngũ thiền chỉ có thể nhập Arahán Thánh Quả Định, ở bậc thiền nào trong 5 bậc thiền đã chứng đắc tùy ý, nhưng không thể nhập Thánh Quả Định bậc thấp, như Bất Lai Thánh Quả, Nhất Lai Thánh Quả….

(Lộ trình tâm nhập Arahán Thánh Quả Định, xin xem phần "Quả báu của thiền tuệ" ở sau).

7.5- Bậc thiền hỗ trợ cho bậc Thánh Bất Lai và bậc Thánh Arahán nhập Diệt thọ tưởng định (nirodhasamāpatti)

Hành giả là bậc Thánh Bất Lai (Anāgāmī) và bậc Thánh Arahán (Arahanta) muốn nhập Diệt thọ tưởng định cần phải có đủ 2 năng lực:

- Năng lực của thiền định (samathabala) phải chứng đắc cửu thiền (hay bát thiền).

- Năng lực của thiền tuệ (vipassanābala) phải là bậc Bất Lai Thánh Quả, hoặc bậc Arahán Thánh Quả.

Do nhờ 2 năng lực ấy, bậc Thánh Bất Lai, bậc Thánh Arahán mới có thể nhập Diệt thọ tưởng định (nirodhasammāpatti). Nghĩa là diệt tâm, tâm sở và sắc pháp phát sanh từ tâm, (chỉ có sắc pháp phát sanh từ nghiệp, từ thời tiết và từ vật thực còn lại mà thôi), suốt trong 7 ngày hoàn toàn giải thoát khỏi mọi cảnh khổ. Qua đến ngày thứ 8 xả Diệt thọ tưởng định, trở lại cuộc sống bình thường, thở vô – thở ra, 6 thức tâm tiếp xúc với 6 trần cảnh như trước.

(Lộ trình tâm nhập Diệt thọ tưởng định xin xem phần "Quả báu của thiền tuệ" ở sau).

7.6- Quả báu tái sanh kiếp sau

Hành giả tiến hành thiền định sẽ được những quả báu như sau:

- Nếu hành giả tiến hành thiền định chỉ đạt đến cận định (upacārasamādhi), chưa chứng đắc bậc thiền nào. Sau khi chết do năng lực dục giới thiện nghiệp cho quả tái sanh làm người hay làm chư thiên ở 6 cõi trời dục giới, thọ hưởng sự an lạc ở cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ.

- Nếu hành giả tiến hành thiền định chứng đắc được bậc thiền sắc giới hay thiền vô sắc giới nào rồi, bậc thiền ấy không bị hoại mất cho đến lúc chết. Sau khi chết, do năng lực sắc giới thiện nghiệp cho quả chắc chắn tái sanh làm Phạm thiên ở cõi trời sắc giới hay cõi trời vô sắc giới tuỳ theo bậc thiền sở đắc cuối cùng của hành giả.

Khi hành giả đã tái sanh ở cõi trời sắc giới hay cõi trời vô sắc giới nào rồi, được hưởng sự an lạc, của cõi trời sắc giới hay cõi trời vô sắc giới ấy cho đến hết tuổi thọ.


***Quả báu 4 bậc thiền sắc giới

Bốn bậc thiền sắc giới, mỗi bậc thiền có năng lực khác nhau tương xứng với 16 tầng trời sắc giới như sau:

*** 1- Quả báu đệ nhất thiền sắc giới

Hành giả đã chứng đắc đệ nhất thiền sắc giới, sẽ được tái sanh 3 tầng trời sắc giới tuỳ theo năng lực của bậc thiền.

- Đệ nhất thiền sắc giới bậc hạ, được tái sanh làm Phạm thiên ở tầng trời Phạm chúng thiên, có tuổi thọ 1/3 a tăng kỳ trụ.

- Đệ nhất thiền sắc giới bậc trung, được tái sanh làm Phạm thiên ở tầng trời Phạm phụ thiên, có tuổi thọ 1/2 a tăng kỳ trụ.

- Đệ nhất thiền sắc giới bậc thượng, được tái sanh làm Phạm thiên ở tầng trời Đại phạm thiên, có tuổi thọ 1 a tăng kỳ trụ [3].

***2- Quả báu đệ nhị thiền sắc giới

Hành giả đã chứng đắc đệ nhị thiền sắc giới, sẽ được tái sanh 3 tầng trời sắc giới tuỳ theo năng lực của bậc thiền.

- Đệ nhị thiền sắc giới bậc hạ, được tái sanh làm Phạm thiên ở tầng trời Thiểu quang thiên, có tuổi thọ 2 đại kiếp. [4]

- Đệ nhị thiền sắc giới bậc trung, được tái sanh làm Phạm thiên ở tầng trời Vô lượng quang thiên, có tuổi thọ 4 đại kiếp.

- Đệ nhị thiền sắc giới bậc thượng, được tái sanh làm Phạm thiên ở tầng trời Quang âm thiên, có tuổi thọ 8 đại kiếp.

***3- Quả báu đệ tam thiền sắc giới

Hành giả đã chứng đắc đệ tam thiền sắc giới, sẽ được tái sanh 3 tầng trời sắc giới tuỳ theo năng lực của bậc thiền.

- Đệ tam thiền sắc giới bậc hạ, được tái sanh làm Phạm thiên ở tầng tròi Thiểu tịnh thiên, có tuổi thọ 16 đại kiếp.

- Đệ tam thiền sắc giới bậc trung, được tái sanh làm Phạm thiên ở tầng trời Vô lượng tịnh thiên, có tuổi thọ 32 đại kiếp.

- Đệ tam thiền sắc giới bậc thượng, được tái sanh làm Phạm thiên ở tầng trời Biến tịnh thiên, có tuổi thọ 64 đại kiếp.

***4- Quả báu đệ tứ thiền sắc giới

Hành giả là hạng phàm nhân và bậc Thánh Nhập Lưu, bậc Thánh Nhất Lai đã chứng đắc đệ tứ thiền sắc giới, sau khi chết, do năng lực bậc thiền ấy cho quả tái sanh làm Phạm thiên ở tầng trời sắc giới Quảng quả thiên, có tuổi thọ 500 đại kiếp. Quảng quả thiên là tầng trời tột đỉnh của cõi trời sắc giới.

Và hành giả là hạng phàm nhân đã chứng đắc đệ tứ thiền sắc giới, có tâm nhàm chán ở 4 danh uẩn (thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn); không muốn có 4 danh uẩn, chỉ muốn có 1 sắc uẩn. cho nên, sau khi chết, do nguyện lực của hành giả, đệ tứ thiền sắc giới không cho quả 4 danh uẩn tái sanh, mà cho quả sắc uẩn tái sanh đó là Jīvitanavakakalāpa (nhóm 9 sắc pháp có sắc mạng chủ là chính) lên cõi trời Vô tưởng thiên. Phạm thiên ở tầng trời này chỉ có 1 uẩn là sắc uẩn, không có 4 danh uẩn và có tuổi thọ 500 đại kiếp.

(Như vậy, nếu nói rằng không có tâm thức là không phải chúng sinh, thì ở trường hợp chư Phạm thiên ở tầng trời Vô tưởng thiên là không đúng. Chư Phạm thiên ở tầng trời Vô tưởng thiên sống đủ 500 đại kiếp rồi phải tái sanh trở lại cõi trời dục giới).

***Quả báu đệ tứ thiền sắc giới, đối với bậc Thánh Bất Lai

Hành giả là bậc Thánh Bất Lai đã chứng đắc đệ tứ thiền sắc giới, sau khi chết, do năng lực bậc thiền này cho quả tái sanh làm Phạm thiên ở 5 tầng trời của Phước sanh thiên theo năng lực của 5 pháp chủ.

***Phước sanh thiên có 5 tầng trời:

1- Bậc Thánh Bất Lai có tín pháp chủ nhiều năng lực, bậc thiền ấy cho quả tái sanh ở tầng trời Vô phiền thiên, có tuổi thọ 1.000 đại kiếp.
2- Bậc Thánh Bất Lai có tấn pháp chủ nhiều năng lực, bậc thiền ấy cho quả tái sanh ở tầng trời Vô nhiệt thiên, có tuổi thọ 2.000 đại kiếp.
3- Bậc Thánh Bất Lai có niệm pháp chủ nhiều năng lực, bậc thiền ấy cho quả tái sanh ở tầng trời Thiện hiện thiên, có tuổi thọ 4.000 đại kiếp.
4- Bậc Thánh Bất Lai có định pháp chủ nhiều năng lực, bậc thiền ấy cho quả tái sanh ở tầng trời Thiện kiến thiên, có tuổi thọ 8.000 đại kiếp.
5- Bậc Thánh Bất Lai có tuệ pháp chủ nhiều năng lực, bậc thiền ấy cho quả tái sanh ở tầng trời Sắc cứu cánh thiên, có tuổi thọ 16.000 đại kiếp.
-Bậc Thánh Bất Lai chắc chắn chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn 1 trong 5 cõi trời Phước sanh thiên này, chấm dứt sự tử sanh luân hồi trong tam giới.

***Quả báu bốn bậc thiền vô sắc giới

-Hành giả đã chứng đắc thiền vô sắc giới, chắc chắn bậc thiền ấy sẽ cho quả tái sanh làm Phạm thiên ở cõi trời vô sắc giới. Chư Phạm thiên ở cõi trời này chỉ có 4 danh uẩn: thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn, không có sắc uẩn, nên cõi trời này gọi là cõi trời vô sắc giới.

1- Đệ nhất thiền vô sắc giới, gọi là "không vô biên xứ thiền", được tái sanh lên tầng trời vô sắc giới "Không vô biên xứ thiên", có tuổi thọ 20.000 đại kiếp.
2- Đệ nhị thiền vô sắc giới, gọi là "thức vô biên xứ thiền", được tái sanh lên tầng trời vô sắc giới "Thức vô biên xứ thiên", có tuổi thọ 40.000 đại kiếp.
3- Đệ tam thiền vô sắc giới, gọi là "vô sở hữu xứ thiền", được tái sanh lên tầng trời vô sắc giới "Vô sở hữu xứ thiên", có tuổi thọ 60.000 đại kiếp.
4- Đệ tứ thiền vô sắc giới, gọi là "phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền", được tái sanh lên tầng trời vô sắc giới "Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên" là tầng trời tột cùng của cõi trời vô sắc giới, có tuổi thọ 84.000 đại kiếp.
Đó là quả báu của bốn bậc thiền sắc giới, và bốn bậc thiền vô sắc giới.
-Chư Phạm thiên (không phải bậc Thánh nhân) sanh ở tầng trời sắc giới, hay tầng trời vô sắc giới nào, dầu có tuổi thọ sống lâu bao nhiêu đi nữa, đến khi hưởng hết tuổi thọ ở tầng trời ấy rồi, đều phải chết, rồi tái sanh trở lại kiếp khác do nghiệp dẫn dắt.
-Vị Phạm thiên nào trong thời gian đang hưởng thọ ở tầng trời sắc giới, và tiếp tục tiến hành thiền định, chứng đắc bậc thiền nào, có thể thấp hơn, hoặc ngang bằng, hoặc cao hơn bậc thiền đang hưởng tại tầng trời ấy, sau khi chết, sẽ tái sanh kiếp khác như sau:
- Nếu chứng đắc bậc thiền sắc giới thấp hơn, thì sẽ tái sanh xuống tầng trời thấp hơn, theo bậc thiền sở đắc.
- Nếu chứng đắc bậc thiền ngang bằng bậc thiền cũ, thì sẽ tái sanh trở lại tầng trời cũ như kiếp trước.
- Nếu chứng đắc bậc thiền cao hơn, thì sẽ tái sanh lên tầng trời cao hơn, theo bậc thiền sở đắc.
- Nhưng nếu không chứng đắc được bậc thiền nào, thì phải tái sanh xuống cõi thiện dục giới (1 cõi người + 6 cõi trời dục giới).
- Chư Phạm thiên ở tầng trời Vô tưởng thiên, khi hưởng hết tuổi thọ 500 đại kiếp rồi, sau khi chết, do năng lực thiện nghiệp kiếp trước tích lưu lại từ kiếp thứ 3 trở về trước, thiện nghiệp ấy cho quả, chắc chắn sẽ tái sanh xuống cõi thiện dục giới.
-Vị Phạm thiên nào trong thời gian đang hưởng thọ ở tầng trời vô sắc giới, tiếp tục tiến hành thiền định chỉ có thể chứng đắc ngang bằng bậc thiền cũ, hoặc chứng đắc bậc thiền cao hơn. Nhưng chắc chắn không thể chứng đắc bậc thiền thấp hơn bậc thiền cũ, vì không có đề mục thiền định để làm đối tượng. Như vậy, chư Phạm thiên ở cõi trời vô sắc giới, sau khi chết, chỉ có thể sẽ tái sanh trở lại tầng trời vô sắc giới cũ, hoặc tầng trời vô sắc giới cao hơn mà thôi.
- Chư Phạm thiên ở tầng trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên, tột đỉnh của cõi trời vô sắc giới, hưởng hết tuổi thọ 84.000 đại kiếp rồi, nếu không chứng đắc được bậc thiền cũ, thì sau khi chết, chắc chắn phải tái sanh xuống cõi thiện dục giới.
Pháp hành thiền định vẫn còn phải chịu cảnh tử sanh luân hồi quanh quẩn trong tam giới, không thể giải thoát khổ.
Pháp hành có thể dẫn đến sự giải thoát tử sanh luân hồi trong tam giới, đó là Pháp hành thiền tuệ.

Chú thích:
[1] Trường hợp nhất tâm tâm sở là loại tâm sở đồng sanh với tất cả các loại tâm, gồm có 89 hoặc 121 tâm, nhận biết cả 6 đối tượng: sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần. Nhất tâm tâm sở này không thuộc về pháp hành thiền định.

[2] Ðề mục hình tròn kasiṇa có đường kính 1 gang + 4 lóng tay, để cách xa chỗ ngồi 2 hắc tay + 1 gang.

[3] A tăng kỳ phiên âm từ chữ "asaṅkheyya". Thời gian lâu dài không thể đếm bằng số, thời gian diễn tiến trải qua 4 a tăng kỳ như sau:
- A tăng kỳ thành: khoảng thời gian lâu dài, thế giới được tạo thành mới.
- A tăng kỳ trụ: khoảng thời gian lâu dài, thế giới đang tồn tại, như thế giới ngày nay.
- A tăng kỳ hoại: khoảng thời gian lâu dài, thế giới đang bị hoại.
- A tăng kỳ không: khoảng thời gian lâu dài, thế giới không còn nữa.

[4] Ðại kiếp dịch từ Mahākappa: Khoảng thời gian lâu dài trải qua 4 a tăng kỳ thành - trụ - hoại - không.

Tỳ khưu Hộ Pháp."
« Sửa lần cuối: 30-08-2019, 05:24 PM gửi bởi TrieuTuLong »
Logged

Karma Yoga, con đường của Hành Động không có tự ngã.
TrieuTuLong
Full Member
***

Bài viết: 485



Xem hồ sơ cá nhân
Người gởi: TrieuTuLong
Trả lời #1 vào lúc: 30-08-2019, 05:26 PM

II- PHÁP HÀNH THIỀN TUỆ (Vipassanābhāvanā)

Pháp hành thiền tuệ là pháp hành chỉ có trong Phật giáo, không có ngoài Phật giáo.

Qua tiểu sử của Đức Phật khi còn là Đức Bồ Tát, Ngài đã từng thọ giáo với vị Đạo sư Ālāra Kālāmagotta và vị Đạo sư Udaka Rāmaputta về pháp hành thiền định, Đức Bồ Tát đã chứng đắc tứ thiền sắc giới và tứ thiền vô sắc giới, là pháp hành cao nhất ở thời kỳ ấy, nhưng hoàn toàn không có pháp hành thiền tuệ.

Pháp hành thiền tuệ là pháp hành dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt được tham ái là nhân sanh khổ, và tất cả mọi phiền não, mọi ác pháp, cuối cùng tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt khổ tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Vì vậy, pháp hành thiền tuệ là pháp hành rất vi tế, sâu sắc, rất khó hiểu về phần pháp học (lý thuyết), lại càng khó về pháp hành (thực hành) cho đúng.

Phần pháp học khó hiểu, là vì những danh từ ngôn ngữ chế định có Thực tánh pháp làm nền tảng. Song thực tánh của tất cả danh pháp, sắc pháp hoàn toàn không phải là danh từ ngôn ngữ chế định (paññatti).

Do đó, pháp học cũng chỉ là phương tiện để hiểu rõ, phân biệt rõ được danh từ chế định thực tánh của mỗi danh pháp, sắc pháp để hiểu biết về pháp hành thiền tuệ.

Phần pháp hành thiền tuệ lại càng rất khó, là vì đối tượng của pháp hành thiền tuệ là danh pháp, sắc pháp thuộc Chân nghĩa pháp (Paramatthadhamma), hay Thực tánh pháp (Sabhāvadhamma), hoàn toàn không phải danh từ ngôn ngữ chế định. Cho nên rất khó thấy rõ, rất khó biết rõ, bởi vì vô minh (avijjā) bao trùm phủ kín lên thực tánh của danh pháp, sắc pháp, lại còn bị tham ái (taṇhā) lôi cuốn theo 6 dục cảnh: sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc êm ái, pháp trần hài lòng, nên mắc phải những sai lầm hư ảo (vipallāsa) như sau:

* Tâm hư ảo (cittavipallāsa): Tâm biết sai lầm nơi danh pháp, sắc pháp.

* Tà kiến hư ảo (diṭṭhivipallāsa): Tà kiến thấy lầm nơi danh pháp, sắc pháp.

* Tưởng hư ảo (saññāvipallāsa): Tưởng sai lầm nơi danh pháp, sắc pháp.

- Tâm biết lầm, tà kiến thấy lầm, tưởng sai lầm nơi danh pháp, sắc pháp cho là "thường" (nicca); nhưng sự thật danh pháp, sắc pháp có "trạng thái vô thường" (anicca).

- Tâm biết lầm, tà kiến thấy lầm, tưởng sai lầm nơi danh pháp, sắc pháp cho là "lạc" (sukha); nhưng sự thật danh pháp, sắc pháp có "trạng thái khổ" (dukkha).

- Tâm biết lầm, tà kiến thấy lầm, tưởng sai lầm nơi danh pháp, sắc pháp cho là "ngã" (attā); nhưng sự thật danh pháp, sắc pháp có "trạng thái vô ngã" (anattā).

- Tâm biết lầm, tà kiến thấy lầm, tưởng lầm nơi danh pháp, sắc pháp cho là "tịnh, đẹp" (subha); nhưng sự thật danh pháp, sắc pháp có trạng thái "bất tịnh" (asubha).

Do tâm biết lầm, tà kiến thấy lầm, tưởng sai lầm nơi danh pháp cho rằng thường, lạc, ngã, tịnh nên làm cho chúng sinh say mê trong danh pháp, sắc pháp, ngũ uẩn; mà không biết rằng danh pháp, sắc pháp, ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh.

Pháp hành thiền tuệ là pháp hành để phát sanh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ đúng theo sự thật thực tánh của danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt liên tục không ngừng, nên hiện rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, trạng thái bất tịnh, để diệt được những điều hư ảo sai lầm cho là "danh pháp, sắc pháp là thường, lạc, ngã, tịnh", làm cho chúng sinh say mê trong danh pháp, sắc pháp, ngũ uẩn.

Pháp hành thiền tuệ hoàn toàn không sáng tạo thêm ra những gì mới mẽ, không làm cho phát sanh những ấn chứng, hỉ lạc như pháp hành thiền định. Sự thật, pháp hành thiền tuệ cốt để phát sanh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp là sự thật hiển nhiên.

Sở dĩ không thấy rõ, không biết rõ được thực tánh của các pháp, là vì vô minh che phủ sự thật thực tánh pháp ấy. Cho nên, tiến hành thiền tuệ để phát sanh trí tuệ thiền tuệ diệt tâm vô minh, trở lại thấy rõ, biết rõ sự thật thực tánh pháp, chỉ có khổ mà thôi, để nhàm chán nơi danh pháp, sắc pháp; để diệt tâm tham ái nơi danh pháp, sắc pháp; để giải thoát khỏi danh pháp, sắc pháp, đó là giải thoát khổ sanh chính là giải thoát mọi cảnh khổ.

***Định Nghĩa Thiền Tuệ (Vipassanāñāṇa):

Thiền tuệ là trí tuệ thấy rõ và biết rõ danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt, nên hiện thấy rõ biết rõ ba trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt được mọi tham ái cùng mọi phiền não và mọi ác pháp, giải thoát mọi cảnh khổ tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài

**Những điểm đặc biệt trong phần định nghĩa:

1- Trí tuệ thiền tuệ (vipassanāñāṇa): là chủ thể của pháp hành thiền tuệ.

2- Danh pháp (nāmadhamma), sắc pháp (rūpadhamma): là đối tượng của pháp hành thiền tuệ.

3- Sự sanh (upāda), sự diệt (vāya) của danh pháp, sắc pháp trong hiện tại, đó là sự thấy rõ, biết rõ của trí tuệ thiền tuệ.

4- Ba trạng thái chung (sāmaññalakkhaṇa) của danh pháp, sắc pháp: đó là sự thấy rõ, biết rõ của trí tuệ thiền tuệ.

5- Tứ thánh đế (Ariyasacca): là mục đích của trí tuệ thiền tuệ.

6- 4 Thánh Đạo (Ariyamagga): là 4 siêu tam giới thiện tâm, là kết quả của pháp hành thiền tuệ.

7- 4 Thánh Quả (Ariyaphala): là 4 siêu tam giới quả tâm, là quả của 4 siêu tam giới thiện tâm.

8- Niết Bàn (Nibbāna): là đối tượng của 4 Thánh Đạo Tâm và 4 Thánh Quả Tâm.

9- Diệt đoạn tuyệt (samucchedapahāna) được tham ái, phiền não, ác pháp: bằng Thánh Đạo Tuệ.

10- Quả báu của pháp hành thiền tuệ.


**PHẦN GIẢI THÍCH:

1- Trí Tuệ Thiền Tuệ

Trí tuệ thiền tuệ (Vipassanāñāṇa) là chủ thể chính yếu của pháp hành thiền tuệ, có khả năng đặc biệt, thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt, nên hiện rõ 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn.

Còn lại các loại trí tuệ khác hiểu biết các pháp chế định (paññattidhamma), pháp học, pháp hành thiền định, các ấn chứng của thiền định…, những loại trí tuệ ấy không gọi là trí tuệ thiền tuệ.

Chức năng của trí tuệ nói chung:

Trí tuệ thuộc về tâm sở gọi là tuệ chủ tâm sở (paññindriya-cetasika), đồng sanh với 47 hay 79 tâm như sau:

- 12 dục giới tịnh hảo tâm hợp với trí (ñāṇasampayuttacitta).
- 15 sắc giới tâm (rūpavacaracitta).
- 12 vô sắc giới tâm (arūpavacaracitta).
- 8 hay 40 siêu tam giới tâm (lokuttaracitta).

Tuệ chủ tâm sở hợp trong mỗi tâm có khả năng biết đối tượng riêng biệt như sau:

- Tuệ chủ tâm sở đồng sanh trong 12 dục giới tịnh hảo tâm hợp với trí, đó là: 4 dục giới đại thiện tâm hợp với trí + 4 dục giới đại quả tâm hợp với trí + 4 dục giới đại duy tác tâm hợp với trí, có khả năng biết 6 đối tượng: sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, pháp trần [5] , biết đối tượng Chân nghĩa pháp và đối tượng Chế định pháp.

- Tuệ chủ tâm sở đồng sanh với 15 sắc giới tâm, đó là: 5 sắc giới thiện tâm + 5 sắc giới quả tâm + 5 sắc giới duy tác tâm, có khả năng chỉ biết được 1 đối tượng là pháp trần, phần thuộc về Chế định pháp (Paññattidhamma).

- Tuệ chủ tâm sở đồng sanh với 12 vô sắc giới tâm, đó là: 4 vô sắc giới thiện tâm + 4 vô sắc giới quả tâm + 4 vô sắc giới duy tác tâm, có khả năng chỉ biết được 1 đối tượng là pháp trần, phần thuộc về Chế định pháp và Chân nghĩa pháp là đối tượng của thiền định.

- Tuệ chủ tâm sở đồng sanh với 8 hay 40 siêu tam giới tâm, đó là: 4 hay 20 Thánh Đạo Tâm + 4 hay 20 Thánh Quả Tâm, có khả năng chỉ biết được 1 đối tượng là pháp trần, phần thuộc về Niết Bàn, Chân nghĩa pháp.

**Trí tuệ thiền tuệ phát sanh như thế nào?

Trí tuệ thiền tuệ phát sanh do nhiều nguyên nhân xa và gần.

- Nguyên nhân xa: hành giả phải là người tam nhân (vô tham, vô sân, vô si) từ khi tái sanh.

- Nguyên nhân gần: do trí tuệ lắng nghe, học hỏi, nghiên cứu hiểu biết rõ ràng về danh pháp, sắc pháp thuộc Chân nghĩa pháp; và do trí tuệ tư duy đúng đắn theo pháp đã học, làm nền tảng căn bản, để tiến hành đúng theo pháp hành thiền tuệ.

Khi hành giả tiến hành thiền tuệ, có chánh niệm trực nhận, trí tuệ tỉnh giác trực giác danh pháp, sắc pháp, có sự tinh tấn phát sanh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp, nên hiện rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn.

**Trí tuệ thiền tuệ (Vipassanāñāna), có hai loại:

- Trí tuệ thiền tuệ thuộc tam giới (lokiyavipassanāñāṇa).

- Trí tuệ thiền tuệ thuộc siêu tam giới (lokuttaravipassanā).

* Trí tuệ thiền tuệ thuộc tam giới: là tuệ chủ tâm sở đồng sanh trong 4 dục giới đại thiện tâm hợp với trí, (trong tâm của hạng thiện trí phàm nhân và 3 bậc Thánh Hữu Học: bậc Thánh Nhập Lưu, Thánh Nhất Lai, Thánh Bất Lai), và 4 dục giới đại duy tác tâm hợp với trí, (trong tâm của bậc Thánh Arahán), có 6 đối tượng: sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần, thuộc danh pháp sắc pháp trong tam giới; hay nói cách khác:

Trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp thuộc tam giới, sanh rồi diệt, nên hiện rõ 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã. Do đó, gọi là: "Trí tuệ thiền tuệ thuộc tam giới".

* Trí tuệ thiền tuệ thuộc siêu tam giới: là tuệ chủ tâm sở đồng sanh trong 8 hay 40 siêu tam giới tâm, hoặc 4 hay 20 Thánh Đạo Tâm và 4 hay 20 Thánh Quả Tâm, chỉ có Niết Bàn siêu tam giới làm đối tượng. Do đó, gọi là: "Trí tuệ thiền tuệ thuộc siêu tam giới".

Trí tuệ thiền tuệ thuộc siêu tam giới này, có tên gọi là: 4 Thánh Đạo Tuệ và 4 Thánh Quả Tuệ.

2- Danh pháp, Sắc pháp

Đối tượng của thiền tuệ phải là danh pháp (nāmadhamma) và sắc pháp (rūpadhamma) thuộc về Chân nghĩa pháp (Paramattha-dhamma), không phải là Chế định pháp (Paññattidhamma).

2.1- Danh Pháp

Danh pháp (nāmadhamma) là pháp có trạng thái hướng biết đối tượng (nāmanalakkhaṇa).

Danh pháp đó là: tâm và tâm sở.

- Tâm gồm có 89 hay 121 tâm.
- Tâm sở gồm có 52 tâm sở.

* Tâm (citta): là đối tượng của thiền tuệ, chỉ có 81 tâm thuộc tam giới, trừ 8 hay 40 siêu tam giới tâm, vì siêu tam giới tâm không thuộc về Khổ thánh đế.


***Tam giới tâm có 81 tâm là:

1- Dục giới tâm có 54 tâm, gồm:

- Bất thiện tâm có 12 tâm (8 tham tâm + 2 sân tâm + 2 si tâm).
- Vô nhân tâm có 18 tâm.
- Đại thiện tâm có 8 tâm.
- Đại quả tâm có 8 tâm.
- Đại duy tác tâm có 8 tâm.

2- Sắc giới tâm có 15 tâm, gồm:

- Sắc giới thiện tâm có 5 tâm.
- Sắc giới quả tâm có 5 tâm.
- Sắc giới duy tác tâm có 5 tâm.

3- Vô sắc giới tâm có 12 tâm, gồm:

- Vô sắc giới thiện tâm có 4 tâm.
- Vô sắc giới quả tâm có 4 tâm.
- Vô sắc giới duy tác tâm có 4 tâm.

81 tam giới tâm này, thuộc Khổ thánh đế là pháp nên biết.

* Tâm Sở (cetasita), có 52 tâm.

Tâm sở luôn luôn tùy thuộc vào tâm, với 4 trạng thái:

- Đồng sanh với tâm.
- Đồng diệt với tâm.
- Đồng đối tượng với tâm.
- Đồng nơi phát sanh với tâm.

Số lượng tâm sở đồng sanh với mỗi tâm, ít hay nhiều khác nhau tùy theo mỗi tâm, để trợ giúp tâm làm các phận sự.

Ví dụ:

- 2 nhãn thức tâm, chỉ cần có 7 tâm sở đồng sanh, làm các phận sự trợ giúp cho nhãn thức tâm làm một phận sự nhìn thấy sắc trần.

Cũng như vậy, 2 nhĩ thức tâm, 2 tỷ thưc tâm, 2 thiệt thức tâm, 2 thân thức tâm, chỉ cần có 7 tâm sở đồng sanh trợ giúp làm phận sự của mỗi tâm ấy.

Đó là 10 tâm có số lượng tâm sở ít nhất.

Riêng dục giới đại thiện tâm cần có đến 38 tâm sở đồng sanh. Vì tâm này làm nhiều phận sự, nên cần có số lượng tâm sở đồng sanh nhiều nhất.

**Trạng Thái Tâm, Tâm Sở

Tâm và tâm sở có 2 trạng thái: trạng thái riêng và trạng thái chung.

- Trạng thái riêng của tâm, tâm sở.

* Tâm gồm có 89 hay 121 tâm cùng một trạng thái riêng là biết đối tượng.
* Tâm sở gồm có 52 tâm sở, mỗi tâm sở đều có mỗi trạng thái riêng khác nhau. Vậy, 52 tâm sở có 52 trạng thái riêng. (Xin xem lại phần "Tâm sở" ở trước, trang 61-65).

- Trạng thái chung của tâm, tâm sở.

Tâm và tâm sở thuộc về danh pháp cùng có 3 trạng thái chung:

* Trạng thái vô thường (aniccalakkhaṇa).
* Trạng thái khổ (dukkhalakkhaṇa).
* Trạng thái vô ngã (anattalakkhaṇa).


**Phận Sự Của Danh Pháp

Danh pháp có 2 phận sự chính:

1- Danh pháp làm phận sự chủ thể nhận biết đối tượng.

- Nhãn thức tâm, có phận sự nhìn thấy sắc trần: hình dạng, do nương nhờ nhãn môn (mắt).
- Nhĩ thức tâm, có phận sự nghe thanh trần: các âm thanh, tiếng nói, do nương nhờ nhĩ môn (tai).
- Tỷ thức tâm, có phận sự ngửi hương trần: các loại mùi, do nương nhờ tỷ môn (mũi).
- Thiệt thức tâm, có phận sự nếm vị trần: các loại vị, do nương nhờ thiệt môn (lưỡi).
- Thân thức tâm, có phận sự tiếp xúc trần: nóng, lạnh, cứng, mềm, phồng, xẹp…, do nương nhờ thân môn (thân).
- Ý thức tâm, có phận sự biết pháp trần [6] , do nương nhờ ý môn.

2- Danh pháp làm phận sự đối tượng của thiền tuệ.

Hành giả tiến hành thiền tuệ có chánh niệm, trí tuệ tỉnh giác thấy rõ, biết rõ danh pháp làm đối tượng.

Danh pháp làm đối tượng của thiền tuệ gồm có 81 tâm thuộc tam giới và 52 tâm sở.

Trong trường hợp hành giả tiến hành thiền tuệ có chánh niệm, trí tuệ tỉnh giác thấy rõ, biết rõ thọ hay tâm làm đối tượng của thiền tuệ, gọi là: "danh pháp biết danh pháp". Nghĩa là, chánh niệm, trí tuệ tỉnh giác thuộc về danh pháp chủ thể phát sanh sau, thấy rõ, biết rõ thọ hay tâm thuộc về danh pháp đối tượng trước vừa mới diệt.

Như phần niệm thọ, niệm tâm trong pháp hành Tứ niệm xứ.

2.2- Sắc Pháp

Sắc pháp (rūpadhamma) là pháp có trạng thái bị hủy hoại do nóng, lạnh, đói, khát,… (ruppanalakkhaṇa).

Sắc pháp gồm có 28 sắc pháp, trong thân thể của mỗi người bình thường không bị bệnh tật khiếm khuyết, có thể có đủ 27 sắc pháp.

- Nếu là người đàn ông, thì trừ sắc nữ tính.
- Nếu là người đàn bà, thì trừ sắc nam tính.
- Nếu người nào bị mắt mù, tai điếc,… thì người ấy bị giảm số lượng sắc pháp theo bệnh tật ấy.

Phận Sự Của Sắc Pháp

Sắc pháp chỉ có một phận sự duy nhất là làm đối tượng của tâm, hay làm đối tượng của danh pháp. Sắc pháp hoàn toàn không thể biết được đối tượng, không biết cảm giác. Riêng phần sắc thân của con người không biết cảm giác nóng, lạnh, đói, khát, đau nhức…. Sở dĩ, sắc thân biết cảm giác nóng, lạnh, đói, khát, đau nhức,… là do tâm và tâm sở tức là danh pháp.

Nếu không có tâm và tâm sở hay danh pháp nương nhờ nơi sắc thân này nữa, thì sắc thân này trở thành tử thi, không thể thở vô, thở ra, đi, đứng, nằm, ngồi,… nói năng, ăn uống; cũng không biết cảm giác nóng lạnh, đói khát, đau nhức….

Sắc thân này thở vô, thở ra, đi, đứng, ngồi, nằm, nói năng,… đều do tâm chủ động, gọi là sắc pháp phát sanh từ tâm (cittajarūpa).

Sắc pháp trong thân chỉ có thể tiếp xúc với đối tượng, làm nhân duyên để phát sanh tâm hay danh pháp mà thôi.

Ví dụ:

- Mắt (nhãn tịnh sắc: cakkhupasādarūpa) không thể nhìn thấy sắc trần, chỉ là nơi tiếp xúc với sắc trần, do sự tiếp xúc ấy, nên phát sanh nhãn thức tâm. Chính nhãn thức tâm mới có thể nhìn thấy sắc trần. Cũng như vậy, nhĩ tịnh sắc, tỷ tịnh sắc, thiệt tịnh sắc, thân tịnh sắc, sắc ý căn (hadayavatthurūpa) chỉ là nơi tiếp xúc với đối tượng riêng biệt từng mỗi môn mà thôi.

Phân Biệt Danh Pháp, Sắc Pháp Trong 6 Môn

Danh pháp, sắc pháp phát sanh do nương nhờ 6 môn như sau:

1- Nhãn môn (mắt): Khi sắc trần, hình dạng, tiếp xúc với nhãn tịnh sắc (mắt), do sự tiếp xúc ấy, nên phát sanh nhãn thức tâm làm phận sự nhìn thấy được sắc trần: hình dạng… trong hiện tại.

Nhãn thức tâm có 2 tâm:

- Nhãn thức tâm là quả của bất thiện tâm, nhìn thấy sắc trần xấu xí.
- Nhãn thức tâm là quả của thiện tâm, nhìn thấy sắc trần tốt đẹp.

* Sắc trần với nhãn tịnh sắc thuộc về sắc pháp.
* Nhãn thức tâm nhìn thấy sắc trần thuộc về danh pháp.

2- Nhĩ môn (tai): Khi thanh trần, các âm thanh, tiếp xúc với nhĩ tịnh sắc (tai), do sự tiếp xúc ấy, nên phát sanh nhĩ thức tâm làm phận sự nghe thanh trần, các âm thanh, trong hiện tại.

Nhĩ thức tâm có 2 tâm:

- Nhĩ thức tâm là quả của bất thiện tâm, nghe thanh trần, âm thanh dở.
- Nhĩ thức tâm là quả của thiện tâm, nghe thanh trần, âm thanh hay.

* Thanh trần với nhĩ tịnh sắc thuộc về sắc pháp.
* Nhĩ thức tâm nghe thanh trần thuộc về danh pháp.

3- Tỷ môn (mũi): Khi hương trần, các loại mùi tiếp xúc với tỷ tịnh sắc (mũi), do sự tiếp xúc ấy, nên phát sanh tỷ thức tâm làm phận sự ngửi hương trần, các loại mùi, trong hiện tại.

Tỷ thức tâm có 2 tâm:

- Tỷ thức tâm là quả của bất thiện tâm, ngửi hương trần, mùi hôi thối.
- Tỷ thức tâm là quả của thiện tâm, ngửi hương trần mùi thơm tho.

* Hương trần với tỷ tịnh sắc thuộc về sắc pháp.
* Tỷ thức tâm ngửi hương trần thuộc về danh pháp.

4- Thiệt môn (lưỡi): Khi vị trần, các loại vị, tiếp xúc với thiệt tịnh sắc (lưỡi), do sự tiếp xúc ấy, nên phát sanh thiệt thức tâm làm phận sự nếm vị trần, các loại vị, trong hiện tại.

Thiệt thức tâm có 2 tâm:

- Thiệt thức tâm là quả của bất thiện tâm, nếm vị trần, vị dở.
- Thiệt thức tâm là quả của thiện tâm, nếm vị trần, vị ngon.

* Vị trần với thiệt tịnh sắc thuộc về sắc pháp.
* Thiệt thức tâm nếm vị trần thuộc về danh pháp.

5- Thân môn (thân): Khi xúc trần, cứng, mềm, nóng, lạnh, phồng, xẹp…, tiếp xúc với thân tịnh sắc (thân), do sự tiếp xúc ấy, nên phát sanh thân thức tâm làm phận sự tiếp xúc với xúc trần, cứng, mềm, nóng, lạnh…, trong hiện tại.

Thân thức tâm có 2 tâm:

- Thân thức tâm là quả của bất thiện tâm, tiếp xúc trần thô, cứng.
- Thân thức tâm là quả của thiện tâm, tiếp xúc trần tế, êm dịu.

* Xúc trần với thân tịnh sắc thuộc về sắc pháp.
* Thân thức tâm tiếp xúc trần thuộc về danh pháp.

6- Ý môn (ý): Khi pháp trần tiếp xúc với sắc ý căn (hadayavatthu-rūpa), do sự tiếp xúc ấy nên phát sanh ý thức tâm làm phận sự biết pháp trần ở 3 thời: quá khứ, hiện tại, vị lai và ngoại 3 thời [7] , đó là đối tượng Niết Bàn và đối tượng paññatti: chế định pháp.

Ý thức tâm phát sanh do nương nhờ ý môn, gồm có 75 tâm (trừ 10 thức tâm và 4 vô sắc giới quả tâm).

* Sắc pháp với sắc ý căn thuộc về sắc pháp.
* Ý thức tâm biết pháp trần thuộc về danh pháp.

* Niết Bàn là vô vi pháp thuộc về danh pháp đặc biệt, làm đối tượng của siêu tam giới tâm.

* Chế định pháp không thuộc về sắc pháp, cũng không thuộc về danh pháp, nên không thể làm đối tượng của pháp hành thiền tuệ.

 

– Pháp trần có 3 pháp: tâm, tâm sở, sắc pháp trong quá khứ, hiện tại, vị lai.

– Niết Bàn và Chế định pháp không trong 3 thời, vì không có sự sanh, sự diệt.

===================

***Danh pháp, Sắc pháp trong Tứ niệm xứ

Pháp hành Tứ niệm xứ, Đức Phật thuyết giảng trong kinh "Đại Tứ niệm xứ" có 4 phần như sau:

– Thân niệm xứ: thân là đối tượng của chánh niệm, trí tuệ tỉnh giác, tất cả phần thân thuần túy thuộc sắc pháp.
– Thọ niệm xứ: thọ là đối tượng của chánh niệm, trí tuệ tỉnh giác, tất cả phần thọ thuần túy thuộc danh pháp.
– Tâm niệm xứ: tâm là đối tượng của chánh niệm, trí tuệ tỉnh giác, tất cả phần tâm thuần túy thuộc danh pháp.
– Pháp niệm xứ: pháp là đối tượng của chánh niệm, trí tuệ tỉnh giác, tất cả phần pháp thuộc danh pháp lẫn sắc pháp.

Nhân Duyên Phát Sanh Danh Pháp, Sắc Pháp

Mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp phát sanh lên do hội đủ nhân duyên, nếu thiếu nhân duyên nào, danh pháp, sắc pháp không thể phát sanh lên được.

Nhân Duyên Phát Sanh Danh Pháp

Sự phát sanh danh pháp đối với chúng sinh trong tam giới, có sự nương nhờ khác nhau như sau:

* Đối với chúng sinh có ngũ uẩn trong 11 cõi dục giới, danh pháp: tâm, tâm sở phát sanh do nường nhờ 3 pháp.

– Atītakamma: Nghiệp quá khứ, ác nghiệp hoặc thiện nghiệp trong quá khứ.
– Vatthu: Nơi phát sanh, có 6 tịnh sắc: nhãn tịnh sắc, nhĩ tịnh sắc, tỷ tịnh sắc, thiệt tịnh sắc, thân tịnh sắc và sắc ý căn.
– Ārammaṇa: Đối tượng, có 6 đối tượng: sắc trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần.

* Đối với chúng sinh Phạm thiên có ngũ uẩn trong 15 cõi trời sắc giới (trừ cõi Vô tưởng thiên), danh pháp: tâm, tâm sở phát sanh do nương nhờ 3 pháp.

– Nghiệp quá khứ.
– Nơi phát sanh: có 3 tịnh sắc: nhãn tịnh sắc, nhĩ tịnh sắc và sắc ý căn.
– Đối tượng: có 3 đối tượng: sắc trần, thanh trần và pháp trần.

* Đối với chúng sinh Phạm thiên có tứ uẩn trong 4 cõi trời vô sắc giới, danh pháp: tâm, tâm sở phát sanh do nương nhờ 2 pháp.

– Nghiệp quá khứ.
– Đối tượng: có một đối tượng, pháp trần.

Danh pháp phát sanh do nương nhờ sắc pháp

Danh pháp: Đó là tâm + tâm sở phát sanh do nương nhờ sắc pháp.

Ví dụ:

Nhãn thức tâm được phát sanh do nhờ sắc trần: hình dạng, tiếp xúc với nhãn tịnh sắc.

Ví như: "tiếng chuông" được phát ra thành tiếng là do nhờ dùi chuông đánh đụng vào cái chuông.

Thật ra, trong dùi chuông không có tiếng chuông, và trong cái chuông cũng không có tiếng chuông. Sở dĩ có tiếng chuông là vì dùi chuông đụng vào cái chuông.

Cũng như vậy, khi sắc trần tiếp xúc với nhãn tịnh sắc, do nhân duyên tiếp xúc ấy, mới phát sanh "nhãn thức tâm", là tâm phát sanh do nương nhờ nhãn tịnh sắc, làm phận sự nhìn thấy sắc trần, hình dạng.

Nếu chỉ riêng nhãn tịnh sắc (mắt) thì không thể nhìn thấy được, như khi tâm đăm chiêu suy nghĩ về một vấn đề gì thuộc nội tâm, dầu đôi mắt đang mở vẫn không nhìn thấy những vật đằng trước mặt; hoặc chỉ riêng tâm cũng không thể nhìn thấy được sắc trần, hình dạng, như khi nhắm mắt, bịt mắt, dầu tâm muốn nhìn thấy một vật gì cũng không thể thấy được.

Vì cả 2 trường hợp này không hội đủ nhân duyên để cho nhãn thức tâm phát sanh, nên không thể nhìn thấy.

Vậy, khi sắc trần: hình dạng tiếp xúc với nhãn tịnh sắc (mắt), do nhân duyên tiếp xúc ấy, mới phát sanh nhãn thức tâm là tâm phát sanh do nương nhờ ở nhãn tịnh sắc.

Chính nhãn thức tâm này làm phận sự nhìn thấy sắc trần. Ngoài nhãn thức tâm ra, không có một tâm nào khác, hay một người nào khác, một chúng sinh nào khác có thể nhìn thấy sắc trần, hình dạng trong hiện tại.

Tương tự như vậy, nhĩ thức tâm được phát sanh do nhờ thanh trần, âm thanh, tiếp xúc với nhĩ tịnh sắc (tai).

Nếu chỉ riêng nhĩ tịnh sắc (tai), không thể nghe được thanh trần, âm thanh, như khi ngủ say, tai không nghe được âm thanh nào; hoặc chỉ riêng tâm cũng không thể nghe được âm thanh nào, như khi tai bị bịt chặt, hay trong phòng kín, dẫu tâm muốn nghe âm thanh, cũng không thể nghe được.

Vì cả hai trường hợp này, không hội đủ nhân duyên, để cho nhĩ thức tâm phát sanh, nên không thể nghe được.

Vậy, khi thanh trần, âm thanh tiếng nói tiếp xúc với nhĩ tịnh sắc (tai), do nhân duyên tiếp xúc ấy, mới phát sanh nhĩ thức tâm là tâm phát sanh do nương nhờ ở nhĩ tịnh sắc.

Chính nhĩ thức tâm này làm phận sự nghe thanh trần, âm thanh. Ngoài nhĩ thức tâm ra, không còn có tâm nào khác, hay một người nào khác, một chúng sinh nào khác có thể nghe được thanh trần, âm thanh trong hiện tại.

Tương tự như vậy, tỷ thức tâm, thiệt thức tâm, thân thức tâm, ý thức tâm. Mỗi tâm phát sanh cũng đều do hội đủ nhân duyên riêng của tâm ấy.

Nhân Duyên Phát Sanh Sắc Pháp

Sắc pháp phát sanh do 4 nhân duyên.

1- Sắc pháp phát sanh do nghiệp (kammajarūpa).
2- Sắc pháp phát sanh do tâm (cittajarūpa).
3- Sắc pháp phát sanh do thời tiết (utujarūpa).
4- Sắc pháp phát sanh do vật thực (āhārajarūpa).

* Sắc pháp phát sanh do tâm hay danh pháp.

Hành giả tiến hành thiền tuệ nên tìm hiểu về sắc pháp phát sanh do tâm (cittajarūpa), vì liên quan đến đối tượng trí tuệ thứ nhì trong 16 loại trí tuệ thiền tuệ.

Ví dụ:

4 oai nghi chính: đi, đứng, ngồi, nằm, và các oai nghi phụ: bước tới, bước lui, quay bên trái, quay bên phải, co tay, co chân, duỗi tay, duỗi chân… đều là những sắc pháp phát sanh do tâm, làm đối tượng thiền tuệ.

- Nhân duyên phát sanh 4 oai nghi.

4 oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm là sắc pháp phát sanh do tâm.

Ví dụ:

"Oai nghi đi" gọi là "thân đi" hoặc "sắc đi" là sắc pháp phát sanh do bởi nhiều nhân duyên tuần tự như sau:

- Tâm nghĩ "đi".

- Do tâm nghĩ đi làm cho phát sanh chất gió.

- Chất gió phát sanh do tâm ấy làm cho cử động toàn thân.

- Toàn thân di chuyển bước đi từng bước do năng lực của chất gió phát sanh từ tâm ấy, gọi là "thân đi" hoặc "sắc đi" là sắc pháp phát sanh do tâm (cittajarūpa).

Tương tự như vậy, sắc đứng, sắc ngồi, sắc nằm, và sắc bước tới, sắc bước lui, sắc quay bên phải, sắc quay bên trái, sắc co tay vào, sắc co chân vào, sắc duỗi tay ra, sắc duỗi chân ra,… đều là những sắc pháp phát sanh do tâm (do danh pháp).

Như vậy, mỗi oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm được là do hội đủ nhân duyên; chứ không phải người nào, hoặc chúng sinh nào có thể đi, đứng, ngồi, nằm.

Sở dĩ, người bị bệnh bại liệt, dầu tâm muốn đi, đứng, ngồi, nằm,… như người bình thường không thể được, là vì chất gió phát sanh do tâm quá yếu, không đủ năng lực làm chuyển động thân thể nặng nề do bởi chất đất và chất nước này.

Điều quan trọng của danh pháp, sắc pháp

Hành giả muốn tiến hành thiền tuệ, điều quan trọng đầu tiên cần phải học cho hiểu biết rõ ràng về danh pháp, sắc pháp, vì danh pháp, sắc pháp là đối tượng của thiền tuệ; là pháp để thực nghiệm sự thật chân lý, để thấy rõ, biết rõ thực tánh của danh pháp, sắc pháp đúng theo Chân nghĩa pháp (Paramatthadhamma), hay Thực tánh pháp (Sabhāvadhamma) có trạng thái riêng của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp; có sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp; có 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp, có thể dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn.

Ngoài danh pháp, sắc pháp thuộc về Chân nghĩa pháp ra, Chế định pháp, dầu danh từ ngôn ngữ chế định ấy có Thực tánh pháp làm nền tảng đi nữa, thì cũng hoàn toàn không có trạng thái riêng, không có sự sanh, sự diệt, không có trạng thái chung, không thể dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn.

Ví như một người đọc chữ (sách), điều quan trọng là phải có chữ để mà đọc, phải biết từng nguyên âm, phụ âm, cách ráp vần thành chữ; hiểu ý nghĩa của chữ ấy, thì người ấy đọc được chữ, hiểu được nghĩa.

Cũng như vậy, hành giả tiến hành thiền tuệ, cần phải học hiểu rõ mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp dùng để làm đối tượng thiền tuệ, để thực nghiệm sự thật chân lý của nó.

Phiền Não Nương Nhờ Nơi Danh Pháp, Sắc Pháp

Tất cả mọi phiền não nhất là tà kiến (diṭṭhi), tham ái (taṇhā), ngã mạn (māna) đều nương nhờ nơi danh pháp, sắc pháp mà phát sanh.

1- Tà kiến nương nhờ nơi danh pháp, sắc pháp

Một số người trong đời này, không gần gũi thân cận với bậc Thiện trí trong Phật giáo, không được học hỏi hiểu rõ về danh pháp, sắc pháp; không tiến hành thiền tuệ, nên không thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp đúng theo thực tánh của các pháp là pháp vô ngã.

Do đó, tà kiến (diṭṭhi) nương nhờ nơi danh pháp, sắc pháp phát sanh, nên thấy sai, chấp lầm từ danh pháp cho là ta, sắc pháp cho là ta, là ngã như sau:

1- Khi nhãn thức tâm nhìn thấy sắc trần, thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ chủ thể "nhãn thức tâm" cho là "Ta thấy", và từ đối tượng "sắc trần" cho là "người này, người kia… vật này, vật kia…".

2- Khi nhĩ thức tâm nghe thanh trần, thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ chủ thể "nhĩ thức tâm" cho là "Ta nghe", và từ đối tượng "thanh trần" cho là "tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh…".

3- Khi tỷ thức tâm ngửi hương trần, thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ chủ thể "tỷ thức tâm" cho là "Ta ngửi", và từ đối tượng "hương trần" cho là "mùi thơm nước hoa… mùi hôi tử thi…".

4- Khi thiệt thức tâm nếm vị trần, thì tâm tà kiến thấy sai chấp lầm từ chủ thể "thiệt thức tâm" cho là "Ta nếm", và từ đối tượng "vị trần" cho là "vị đường ngọt… vị chanh chua…".

5- Khi thân thức tâm tiếp xúc với xúc trần (cứng, mền, nóng, lạnh…), thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ chủ thể "thân thức tâm" cho là "Ta tiếp xúc", và từ đối tượng "xúc trần" cho là "sắt cứng, trời lạnh…".

6- Khi ý thức tâm biết pháp trần, thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm như sau:

– Khi sắc đi, thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ "sắc đi" cho là "Ta đi".

– Khi sắc đứng, thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ "sắc đứng" cho là "Ta dứng".

– Khi sắc ngồi, thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ "sắc ngồi" cho là "Ta ngồi".

– Khi sắc nằm, thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ "sắc nằm" cho là "Ta nằm".

– Khi sắc bước tới, thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ "sắc bước tới" cho là "Ta bước tới".

– Khi sắc bước lui, thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ "sắc bước lui" cho là "Ta bước lui"….

– Khi ý thức tâm nào biết pháp trần nào, thì tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ chủ thể "ý thức tâm" ấy cho là "Ta biết", và từ đối tượng "pháp trần" nào cho là "môn này, ngành kia,"….

Sở dĩ tâm tà kiến thấy sai, chấp lầm từ danh pháp, từ sắc pháp cho là "Ta" (Ngã), là vì không có chánh kiến thiền tuệ thấy đúng, biết đúng rằng: "Thực tánh của danh pháp, sắc pháp là Pháp vô ngã, và không có trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô ngã".

Sự thật, danh pháp là pháp vô ngã, sắc pháp là pháp vô ngã: không phải ta, không phải người, không phải chúng sinh, không phải vật này, vật kia. Nhưng do tâm tà kiến theo chấp ngã (attānudiṭṭhi) thấy sai, chấp lầm cho là "ta, người, chúng sinh, vật này vật kia…".

Như vậy, đúng theo thực tánh của các pháp không có ngã thì làm sao mà diệt ngã được?

Thật ra, sự chấp có ngã là do tà kiến thấy sai chấp lầm; mà tâm tà kiến là có thật, khi diệt được tà kiến, thì không còn chấp ngã nữa.

2- Tham ái nương nhờ nơi danh pháp, sắc pháp

Tâm tham ái (taṇhā) hài lòng thỏa thích, say mê ở danh pháp, sắc pháp cho là "tốt đẹp, lợi ích, an lạc…".

Sở dĩ tâm tham ái nương nhờ ở danh pháp, sắc pháp cho là tốt đẹp, lợi ích, an lạc, là vì không có trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ rằng:

– Danh pháp, sắc pháp chỉ là pháp khổ đế.
– Danh pháp, sắc pháp có trạng thái khổ.

3- Ngã mạn nương nhờ nơi danh pháp, sắc pháp.

Tâm ngã mạn (māna) chấp ta là danh pháp, sắc pháp cho là "ta hơn người, ta bằng người, ta kém người…".

Sở dĩ tâm ngã mạn nương nhờ ở danh pháp, sắc pháp chấp ta hơn người, ta bằng người, ta kém người, là vì không có trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ rằng:

– Danh pháp, sắc pháp chỉ là pháp vô thường.
– Danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô thường.

Do đó, sự học hỏi để hiểu biết rõ về tất cả mọi danh pháp, sắc pháp là điều quan trọng đầu tiên của hành giả muốn tiến hành thiền tuệ.

Tà kiến thấy sai làm khổ mình, khổ người

Tà kiến thấy sai, biết lầm, chấp lầm danh pháp, sắc pháp cho là "ta, người, đàn ông, đàn bà, chúng sinh, vật này, vật kia,…" cùng với tham tâm phát sanh chấp rằng: "của ta, của người",… rồi phát sanh mọi phiền não tham, sân, si,… tự làm khổ mình, làm khổ người không chỉ ở kiếp hiện tại, mà còn nhiều kiếp vị lai nữa.

Ví dụ như:

Ban đêm, một người đi đường, nhìn thấy lờ mờ sợi dây ngoằn ngoèo giống như con rắn nằm ở giữa đường. Người ấy nhìn sợi dây ấy, thấy sai, tưởng lầm, chấp lầm cho là "con rắn độc" nên phát sanh tâm sợ hãi, tự làm khổ mình, lại còn nói cho người khác cũng sợ hãi nữa.

Cũng như vậy, một số người trong đời này, là người si mê, bị vô minh che phủ thực tánh của danh pháp, sắc pháp, có tà kiến thấy sai, biết lầm, chấp lầm danh pháp, sắc pháp cho là "Ta, của Ta, người, của người, chúng sinh, vật này, vật kia,…". Do đó, các phiền não tham, sân, si, ngã mạn,… có thể phát sanh, tự làm khổ mình, làm khổ người, tự làm khổ mình lẫn người, không chỉ trong kiếp hiện tại này, mà còn phải chịu khổ nhiều kiếp vị lai nữa.

Chánh kiến thiền tuệ không làm khổ mình, khổ người

Có một số người trong đời này, là người thường được gần gũi với bậc Thánh nhân, bậc Thiện trí trong Phật giáo, được lắng nghe chánh pháp của Đức Phật, được học hỏi hiểu biết rõ về danh pháp, sắc pháp, được tiến hành thiền tuệ, có trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ thực tánh của danh pháp, sắc pháp, có chánh kiến thiền tuệ thấy đúng, biết đúng theo thực tánh của danh pháp, sắc pháp là:

- Danh pháp chỉ là danh pháp.
- Sắc pháp chỉ là sắc pháp.
- Danh pháp là một, sắc pháp là một.
- Tất cả mọi danh pháp, sắc pháp đều là pháp vô ngã: không phải ta, không phải người, không phải đàn ông, không phải đàn bà, không phải chúng sinh, không phải vật này, vật kia,…. Và tất cả mọi danh pháp, sắc pháp trong tam giới đều có trạng thái vô ngã.

Nhờ chánh kiến thiền tuệ mới diệt được tà kiến theo chấp ngã, đồng thời diệt tất cả mọi tà kiến khác.

Bậc Thánh Thanh Văn có chánh kiến thiền tuệ nên không còn làm khổ mình, làm khổ người, không còn làm khổ cả mình lẫn người, ngay kiếp hiện tại lẫn kiếp vị lai.

Ví dụ như:

Ban đêm, một người đi đường, có người cho biết có sợi dây ngoằn ngoèo nằm giữa đường. Người ấy, tay cầm đèn thắp sáng, nhìn thấy rõ đúng một sợi dây ngoằn ngoèo nằm ở giữa đường. Người ấy biết rõ rằng sợi dây chỉ là sợi dây, nên không phát sanh tâm sợ hãi, không làm khổ mình, lại còn nói cho người khác cũng không sợ hãi nữa.

Cũng như vậy, bậc Thánh Thanh Văn trong đời này, là bậc có chánh kiến thiền tuệ thấy đúng, biết đúng theo thực tánh của các pháp là:

- Danh pháp chỉ là danh pháp.
- Sắc pháp chỉ là sắc pháp.
- Danh pháp, sắc pháp đều là pháp vô ngã.

Do đó, các phiền não tham, sân, si, ngã mạn,… không phát sanh, không làm khổ mình, không làm khổ người, không làm khổ cả mình lẫn người, không chỉ trong kiếp hiện tại này mà còn nhiều kiếp vị lai nữa.

Danh Pháp, Sắc Pháp Làm Đối Tượng Thiền Tuệ

Danh pháp, sắc pháp thuộc về Chân nghĩa pháp có ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai.

- Danh pháp, sắc pháp đã diệt rồi, thuộc quá khứ.
- Danh pháp, sắc pháp đang sanh, thuộc hiện tại.
- Danh pháp, sắc pháp chưa sanh, thuộc vị lai.

Danh pháp, sắc pháp ở thời nào là đối tượng của thiền tuệ?

- Danh pháp, sắc pháp thuộc quá khứ đã sanh, đã diệt rồi, danh pháp, sắc pháp ấy không thể làm đối tượng của thiền tuệ. Bởi vì, trí tuệ thiền tuệ không thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp trong quá khứ ấy. Và trí tuệ thiền tuệ cũng không thể thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô nga của danh pháp, sắc pháp trong quá khứ ấy.

Vì vậy, danh pháp, sắc pháp trong quá khứ không trực tiếp làm đối tượng thiền tuệ.

- Danh pháp, sắc pháp thuộc vị lai chưa sanh, danh pháp, sắc pháp ấy không thể làm đối tượng của thiền tuệ. Bởi vì, trí tuệ thiền tuệ không thể thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp trong vị lai ấy. Và trí tuệ thiền tuệ cũng không thể thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp trong vị lai ấy.

Vì vậy, danh pháp, sắc pháp trong vị lai không trực tiếp làm đối tượng thiền tuệ.

- Danh pháp sắc, pháp đang sanh trong hiện tại này, mới có thể làm đối tượng của thiền tuệ. Bởi vì, trí tuệ thiền tuệ có thể thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp ấy. Và trí tuệ thiền tuệ cũng có thể thấy rõ, biết rõ được trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp trong hiện tại ấy.

Vì vậy, chỉ có danh pháp, sắc pháp trong hiện tại mới trực tiếp làm đối tượng thiền tuệ.

Tuy nhiên, khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp trong hiện tại, có sự sanh sự diệt, có trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã; thì trí tuệ thiền tuệ cũng có thể thấu triệt, thông suốt được danh pháp, sắc pháp trong quá khứ cũng đã có trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã. Và trí tuệ thiền tuệ cũng có thể thấu triệt, thông suốt được danh pháp, sắc pháp trong vị lai cũng sẽ có trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã; cũng như danh pháp, sắc pháp trong hiện tại này.

Chỉ có danh pháp, sắc pháp thuộc về Chân nghĩa pháp mới có sự sanh, sự diệt, nên có 3 thời: quá khứ, hiện tại, vị lai mà thôi.

Niết Bàn và Chế định pháp (Paññattidhamma) thuộc về kālavimutti: ngoại 3 thời: không có quá khứ, không có hiện tại, không có vị lai. Bởi vì, Niết Bàn và Chế định pháp không có sự sanh, sự diệt.

Danh pháp, sắc pháp hiện tại có 4 loại : [8]

1- Addhā paccuppanna: Nhất kiếp hiện tại: Kể từ khi ngũ uẩn tái sanh cho đến khi ngũ uẩn tan rã (chết) là thời gian hiện tại của một kiếp người.

2- Samaya paccuppanna: Nhất thời hiện tại: Ngũ uẩn lúc buổi sáng, lúc buổi trưa, lúc buổi chiều, lúc buổi tối… thời gian hiện tại trong một buổi, một lúc.

3- Santati paccuppanna: Liên tục hiện tại: Ngũ uẩn, danh pháp, sắc pháp đang sanh diệt liên tục không ngừng qua các lộ trình tâm (vīthicitta).

4- Khaṇa paccuppanna: Sát na hiện tại: Ngũ uẩn danh pháp, sắc pháp hiện tại ở sát na trụ.

Trong 4 loại hiện tại này, nhất kiếp hiện tại và nhất thời hiện tại danh pháp, sắc pháp có thời gian quá dài, không thể làm đối tượng của thiền tuệ; sát na hiện tại danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt quá ngắn ngủi, mau lẹ, cũng không thể làm đối tượng của thiền tuệ.

Chỉ có liên tục hiện tại, danh pháp, sắc pháp có khoảng thời gian không dài quá, cũng không ngắn quá, nên có thể làm đối tượng của thiền tuệ.

Một khi, trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp trong hiện tại sanh rồi diệt, có trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã; điều dĩ nhiên, trí tuệ thiền tuệ hoàn toàn không còn hoài nghi danh pháp, sắc pháp trong quá khứ và danh pháp, sắc pháp trong vị lai là "thường", "lạc", "ngã". Điều chắc chắn là phải có trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã.

3- Sự Sanh Sự Diệt Của Danh Pháp, Sắc Pháp

Danh pháp, sắc pháp thuộc về Chân nghĩa pháp (Paramattha-dhamma) hay Thực tánh pháp (Sabhāvadhamma), là pháp hữu vi (saṅkhatadhamma) bị cấu tạo do bởi 4 nhân duyên: nghiệp (kamma), tâm (citta), thời tiết (utu), vật thực (āhāra), nên có trạng thái sanh rồi diệt liên tục không ngừng.

Niết Bàn (Nibbāna) là danh pháp thuộc pháp vô vi (asaṅkhata-dhamma), Và Chế định pháp (Paññattidhamma) cũng được ghép vào pháp vô vi, vì chúng không bị cấu tạo bởi 4 nhân duyên: nghiệp, tâm, thời tiết, vật thực, nên không có sự sanh, sự diệt.

Niết Bàn và Chế định pháp không có sự sanh, sự diệt, nên không có trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã; nhưng cả 2 đều là pháp nên thuộc pháp vô ngã.

Như Đức Phật dạy:

"Āniccā sabbe saṅkhārā, dukkhānattā ca sankhatā.
Nibbānañca paññatti, anattā iti nicchayā". [9]

"Tất cả pháp hữu vi, danh pháp và sắc pháp
Đều có 3 trạng thái, vô thường, khổ, vô ngã.
Niết Bàn và Chế định, thuộc về vô ngã pháp".

1- Sự Sanh, Sự Diệt Của Danh Pháp

Danh pháp là Tâm và Tâm sở, có sự sanh sự diệt vô cùng mau lẹ, như Đức Phật dạy rằng:

- Này chư Tỳ khưu, Như lai không thấy pháp nào có sự sanh sự diệt vô cùng mau lẹ như Tâm.  [10]

Trong Chú giải dạy rằng: "Chỉ một lần búng đầu móng tay, tâm + tâm sở (danh pháp) sanh rồi diệt 1000 tỷ lần". [11]

Mỗi tâm + tâm sở có 3 sát na là:

1- Uppāda khaṇa: Sát na sanh.
2- Ṭhiti khaṇa: Sát na trụ.
3- Bhaṅga khaṇa: Sát na diệt.



2- Sự Sanh, Sự Diệt Của Sắc Pháp

Sự sanh, sự diệt của sắc pháp chậm hơn sự sanh sự diệt của danh pháp, với sự so sánh thời gian 3 sát na sanh - trụ - diệt của danh pháp như sau:

* Sắc pháp sanh 1 sát na, diệt 1 sát na giống như danh pháp, thời gian trụ của danh pháp chỉ có 1 sát na, nhưng thời gian trụ của sắc pháp lâu hơn thời gian trụ của danh pháp đến 16 lần tâm sanh diệt.

Theo nhãn môn lộ trình tâm gồm có 17 tâm liên tục sanh diệt, cứ mỗi tâm có 3 sát na nhỏ: sanh - trụ - diệt. Như vậy suốt một nhãn môn lộ trình tâm gồm có 51 sát na nhỏ.

Sắc trần: là sắc pháp, hình dạng rõ ràng làm đối tượng của nhãn môn lộ trình tâm có thể tồn tại trải qua suốt một lộ trình tâm theo tuần tự có 17 tâm liên tục sanh - trụ - diệt, gồm có 51 sát na nhỏ. Trong đó 1 sát na sanh, 1 sát na diệt, còn lại 49 sát na là thời gian trụ của sắc trần (sắc pháp).

Vậy, danh pháp và sắc pháp giống nhau 1 sát na sanh và 1 sát na diệt. Nhưng khác nhau sát na trụ. Danh pháp thời gian trụ chỉ 1 sát na nhỏ, còn sắc pháp thời gian trụ gồm có 49 sát na nhỏ của tâm. Nghĩa là sắc trần bắt đầu sanh từ tâm thứ nhất cho đến tâm thứ 17 mới diệt.

Như vậy, sắc pháp sanh rồi diệt chậm hơn danh pháp, đến 16 lần tâm sanh - diệt.

Xem đồ biểu nhãn môn lộ trình tâm, có sắc trần: hình dạng rõ ràng làm đối tượng để có sự so sánh thấy rõ sát na sanh - trụ - diệt của danh pháp và sắc pháp.

Đồ biểu nhãn môn lộ trình tâm (Cakkhudvāravīthicitta)

 

Giải Thích: Nhãn môn lộ trình tâm

Nhãn môn lộ trình tâm gồm có những tâm sanh rồi diệt theo tuần tự liên tục, có sắc trần rõ ràng làm đối tượng. Bắt đầu từ hộ kiếp tâm quá khứ thứ nhất cho đến tiếp đối tượng tâm thứ 17, là chấm dứt.

Nhãn thức tâm phát sanh là do sắc trần tiếp xúc với nhãn tịnh sắc, theo nhãn môn lộ trình tâm sanh rồi diệt như sau:

Bhavaṅgacitta: Hộ kiếp tâm viết tắt (bha)

1- Atītabhavaṅgacitta: Hộ kiếp tâm quá khứ nt (atī)

2- Bhavaṅgacalana: Hộ kiếp tâm rung động nt (na)

3- Bhavaṅgupaccheda: Hộ kiếp tâm bị cắt đứt nt (da)

4- Pañcadvāravajjanacitta: Ngũ môn hướng tâm nt (pan)

5- Cakkhuviññaṇacitta: Nhãn thức tâm nt (cak)

6- Sampaṭicchanacitta: Tiếp nhận tâm nt (sam)

7- Santīraṇacitta: Suy xét tâm nt (san)

8- Voṭṭhabbanacitta: Xác nhận tâm nt (vot)

9- 15 Javanacitta: Tác hành tâm nt (ja)

16- 17 Tadālammaṇa: Tiếp đối tượng tâm nt (ta)

Bhavaṅgacitta : Hộ kiếp tâm nt (bha)

Qua 17 tâm sanh diệt, sắc trần diệt cùng với tâm thứ 17. Hộ kiếp tâm phát sanh chấm dứt một nhãn môn lộ trình tâm.

3- Nhân Duyên Sanh Diệt [12]

Tất cả mọi danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt liên tục không ngừng. Song mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp sanh do nhân duyên sanh, diệt do nhân duyên diệt.

* Nhân duyên sanh của danh pháp

5 nhân duyên sanh của danh pháp là:

– Danh pháp sanh do vô minh sanh.
– Danh pháp sanh do tham ái sanh.
– Danh pháp sanh do nghiệp sanh.
– Danh pháp sanh do danh pháp, sắc pháp sanh.
– Trạng thái sanh của danh pháp.

* Nhân duyên diệt của danh pháp

5 nhân duyên diệt của danh pháp là:

– Danh pháp diệt do vô minh diệt.
– Danh pháp diệt do tham ái diệt.
– Danh pháp diệt do nghiệp diệt.
– Danh pháp diệt do danh pháp, sắc pháp diệt.
– Trạng thái diệt của danh pháp.

* Nhân duyên sanh của sắc pháp

5 nhân duyên sanh của sắc pháp là:

– Sắc pháp sanh do vô minh sanh.
– Sắc pháp sanh do tham ái sanh.
– Sắc pháp sanh do nghiệp sanh.
– Sắc pháp sanh do vật thực sanh.
– Trạng thái sanh của sắc pháp.

* Nhân duyên diệt của sắc pháp

5 nhân duyên diệt của sắc pháp là:

– Sắc pháp diệt do vô minh diệt.
– Sắc pháp diệt do tham ái diệt.
– Sắc pháp diệt do nghiệp diệt.
– Sắc pháp diệt do vật thực diệt.
– Trạng thái diệt của sắc pháp.

4- Trí Tuệ Thiền Tuệ Thấy Rõ Sự Sanh Sự Diệt

Hành giả tiến hành thiền tuệ có danh pháp, sắc pháp thuộc về Chân nghĩa pháp làm đối tượng. Trí tuệ tuần tự phát triển như sau:

- Trí tuệ thứ nhất gọi là Nāmarūpaparichedañāṇa: Trí tuệ thấy rõ, phân biệt rõ "trạng thái riêng biệt của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp" là pháp vô ngã: không phải ta, không phải người, không phải đàn ông, không phải đàn bà, không phải chúng sinh nào,… đúng theo sự thật Chân nghĩa pháp hay Thực tánh pháp là:

* Danh pháp chỉ là danh pháp.
* Sắc pháp chỉ là sắc pháp.
* Danh pháp là một, sắc pháp là một.
* Trong danh pháp không có sắc pháp.
* Trong sắc pháp không có danh pháp.
* Tất cả mọi danh pháp, sắc pháp đều là pháp vô ngã.

Trí tuệ thứ nhất này đạt đến chánh kiến thanh tịnh (diṭṭhi-visuddhi). Như vậy, Trí tuệ này chỉ có khả năng thấy rõ, biết rõ, phân biệt rõ mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp, nhưng vẫn chưa có đủ khả năng thấy rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp.

- Trí tuệ thứ nhì gọi là Nāmarūpapaccayapariggahañāṇa: Trí tuệ thấy rõ, biết rõ nhân duyên phát sanh của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp. Trí tuệ thứ nhì này có khả năng thấy rõ, biết rõ được "sự sanh" của danh pháp, sắc pháp là do bởi "nhân duyên sanh", nhưng vẫn chưa có khả năng thấy rõ được "sự diệt" của danh pháp, sắc pháp ngay trong hiện tại.

- Trí tuệ thiền tuệ thứ ba gọi là Samasanañāṇa: Trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ được sự diệt của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp. Trí tuệ thiền tuệ thứ ba này có khả năng thấy rõ, biết rõ được "sự diệt" của danh pháp, sắc pháp là do "nhân duyên diệt", nhưng vẫn chưa có khả năng thấy rõ, biết rõ được "sự sanh" của danh pháp, sắc pháp ngay trong hiện tại.

- Trí tuệ thiền tuệ thứ tư gọi là Udayabbayañāṇa: Trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp ngay trong hiện tại.

Trí tuệ thiền tuệ thứ tư có khả năng thấy rõ, biết rõ được rằng:

* Sự sanh của danh pháp, sắc pháp là do bởi nhân duyên sanh.
* Sự diệt của danh pháp, sắc pháp là do bởi nhân duyên diệt.

Trí tuệ thiền tuệ thứ tư này là trí tuệ thiền tuệ chính thức đầu tiên trong 9 loại trí tuệ thiền tuệ có khả năng thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp ngay trong hiện tại.

* Danh pháp nào sanh do nhân duyên nào sanh, thì danh pháp ấy diệt cũng do nhân duyên ấy diệt ngay trong hiện tại; nên trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ được trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp ấy.

* Sắc pháp nào sanh do nhân duyên nào sanh, thì sắc pháp ấy diệt cũng do nhân duyên ấy diệt ngay trong hiện tại; nên trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ được trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của sắc pháp ấy.

Chú thích:

[5] Pháp trần gồm có tất cả 6 chi pháp: tâm + tâm sở + 5 sắc căn + 16 sắc pháp vi tế + Niết Bàn + ngôn ngữ Chế định pháp.

[6] Pháp trần là đối tượng của thiền tuệ, bị hạn chế còn lại 81 tâm thuộc tam giới + 52 tâm sở + sắc pháp hiện hữu và Niết Bàn. (Trừ ra 10 sắc pháp không rõ ràng, và Chế định pháp).

[7] Ngoại 3 thời: không ở trong thời quá khứ, thời hiện tại, thời vị lai.

[8] Bộ Visuddhimagga, phần Khandhaniddesa.

[9] Vinayapiṭaka, bộ Parivàra.

[10] Anguttaranikāya, phần Ekakanapāta.

[11] Chú giải Samyuttanikāya, phần Khandhavagga, Chú giải kinh Phenapin-dupamasuttavaṇṇanā.

[12] Bộ Paṭisambhidāmagga, phần Udayabbayanānaniddesa.
« Sửa lần cuối: 30-08-2019, 06:41 PM gửi bởi TrieuTuLong »
Logged

Karma Yoga, con đường của Hành Động không có tự ngã.
TrieuTuLong
Full Member
***

Bài viết: 485



Xem hồ sơ cá nhân
Người gởi: TrieuTuLong
Trả lời #2 vào lúc: 30-08-2019, 05:40 PM

II - PHÁP HÀNH THIỀN TUỆ (tiếp theo)

4- Ba Trạng Thái Chung (Sāmaññalakkhaṇa)

Tất cả mọi danh pháp, mọi sắc pháp thuộc về Chân nghĩa pháp hay Thực tánh pháp đều có 3 trạng thái chung là:

- Trạng thái vô thường (aniccalakkhaṇa).

- Trạng thái khổ (dukkhalakkhaṇa).

- Trạng thái vô ngã (anattalakkhaṇa).

Trí tuệ thiền tuệ thứ tư bắt đầu thấy rõ, biết rõ 3 trạng thái chung của danh pháp, sắc pháp, là nhờ trí tuệ thứ nhất thấy rõ, biết rõ, phân biệt rõ được trạng thái riêng của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp làm nền tảng.

1- Trạng Thái Riêng Làm Nền Tảng

Trạng thái riêng (visesalakkhaṇa) chỉ có trong Chân nghĩa pháp, làm nền tảng cho trạng thái chung.

* Tâm (citta): Gồm có 89 hay 121 tâm cùng có một trạng thái riêng là: ārammaṇavijānanalakkhaṇa: trạng thái biết đối tượng.

* Tâm sở (cetasika): Gồm có 52 tâm sở, mỗi tâm sở có mỗi trạng thái riêng, 52 tâm sở có 52 trạng thái riêng của mỗi tâm sở ấy.

Ví dụ:

– Phassacetasika: Xúc tâm sở, có trạng thái tiếp xúc đối tượng.
– Saññacetasika: Tưởng tâm sở, có trạng thái tưởng nhớ đối tượng.
– Cetanācetasika: Tác ý tâm sở, có trạng thái tạo tác theo đối tượng… 52 tâm sở thì có 52 trạng thái riêng của mỗi tâm sở ấy [13] .

* Sắc pháp (Rūpadhamma): Gồm có 28 sắc pháp, mỗi sắc pháp có mỗi trạng thái riêng. Như vậy, 28 sắc pháp thì có 28 trạng thái riêng [14].

Ví dụ:

– Paṭhavī: Chất đất có trạng thái cứng hay mềm.
– Āpo: Chất nước có trạng thái lỏng hay đông đặc.
– Tejo: Chất lửa có trạng thái nóng hay lạnh.
– Vāyo: Chất gió có trạng thái phồng hay xẹp, chuyển động v.v….

* Niết Bàn (Nibbāna): santilakkhaṇa: có trạng thái vắng lặng mọi phiền não, mọi nỗi khổ của danh pháp, sắc pháp.

Trạng thái riêng của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp có tầm quan trọng đối với trí tuệ thiền tuệ. Quan trọng như thế nào?

16 loại trí tuệ trong pháp hành thiền tuệ.

- Trí tuệ thứ nhất gọi là Nāmarūpaparicchedañāṇa: Trí tuệ này thấy rõ, biết rõ trạng thái riêng của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp, nên phân biệt, thấy rõ sự khác biệt của mỗi danh pháp, của mỗi sắc pháp.

- Trí tuệ thứ nhì gọi là Nāmarūpapaccayapariggahañāṇa: Trí tuệ này thấy rõ, biết rõ nhân duyên sanh của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp, có liên quan đến mỗi trạng thái riêng của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp.

- Trí tuệ thiền tuệ thứ ba gọi là Sammasanañāṇa: Trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ sự diệt của danh pháp, sắc pháp. Bắt đầu thấy rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp nhưng chưa hoàn toàn, ngay trong hiện tại.

- Trí tuệ thiền tuệ thứ tư gọi là Udayabbayānupassanāñāṇa: Trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp ngay trong hiện tại, nên hiện thấy rõ 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, của danh pháp, sắc pháp.

Như vậy, trí tuệ thứ nhất, trí tuệ thứ nhì biết rõ trạng thái riêng của danh pháp, sắc pháp, làm nền tảng căn bản, để giúp cho trí tuệ thiền tuệ thứ ba, trí tuệ thiền tuệ thứ tư… thấy rõ, biết rõ 3 trạng thái chung, cho đến trí tuệ thiền tuệ thứ 12 gọi là Anulomañāṇa cũng đều thấy rõ, biết rõ 1 trong 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, hoặc trạng thái khổ, hoặc trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp.

2- Trạng Thái Chung (Sāmaññalakkhaṇa)

Tất cả danh pháp, sắc pháp thuộc về Chân nghĩa pháp (Paramattha-dhamma) đều có 3 trạng thái chung là:

1- Trạng thái vô thường (aniccalakkhaṇa).
2- Trạng thái khổ (dukkhalakkhaṇa).
3- Trạng thái vô ngã (anattalakkhaṇa).

Sở dĩ có ba trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp, là vì có sự sanh, sự diệt của mỗi danh pháp, của mỗi sắc pháp liên tục không ngừng.

Ý Nghĩa Vô Thường (anicca)

"Aniccaṃ khayaṭṭhena" [15]: Vô thường với ý nghĩa hoại diệt, vì tất cả mọi danh pháp, sắc pháp sanh lên rồi đều phải diệt cả thảy; hay hutvā abhāvaṭṭhena aniccā: có rồi lại không là nghĩa của vô thường.

Vô thường có 3 loại:

1- Anicca: Vô thường.

"Sabbe saṅkhārā aniccā": Tất cả các pháp hữu vi đều là vô thường.

Saṅkhārā: Pháp hữu vi: Đó là ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới…. Tóm lại là danh pháp và sắc pháp đều là vô thường. Vì khi sanh lên rồi, đều phải diệt, theo tự nhiên của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp.

2- Aniccalakkhaṇa: Trạng thái vô thường.

Trường hợp hành giả tiến hành thiền tuệ, đến khi phát sanh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt liên tục không ngừng, nên hiện rõ trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp.

3- Aniccānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi trạng thái vô thường.

Trường hợp hành giả tiến hành thiền tuệ, khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô thường, nên diệt được sự tưởng lầm chấp lầm cho rằng: "Danh pháp, sắc pháp là thường (niccasaññā)".

Nếu hành giả tiếp tục tiến hành thiền tuệ, trí tuệ thiền tuệ theo quán thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp như vậy, có thể dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn gọi là "Aminittanibbāna": Vô Hiện Tượng Niết Bàn (Niết Bàn không có hiện tượng các pháp hữu vi).

Hành giả được chứng ngộ Vô Tướng Niết Bàn này, là do tín pháp chủ (saddhindriya) có nhiều năng lực hơn 4 pháp chủ khác (tấn pháp chủ, niệm pháp chủ, định pháp chủ, tuệ pháp chủ); hay do năng lực của giới (sīla).

Ý Nghĩa Khổ (Dukkha)

"Dukkhaṃ bhayaṭṭhena" [16]: Khổ với ý nghĩa đáng kinh sợ, vì tất cả danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt liên tục không ngừng, vô thường, hoại diệt nên đáng kinh sợ; hay uppādayavapaṭipīḷanaṭṭhena dukkhā: sự sanh, sự diệt luôn luôn hành hạ gọi là khổ.

Tính chất khổ có 3 loại:

1- Dukkhadukkha: Khổ thật khổ, đó là thọ khổ (dukkhavedanā) khổ khó chịu đựng nổi, như khổ thân, khổ tâm.

2- Vipariṇāmadukkha: Biến chất khổ, đó là thọ lạc (sukha-vedanā) bị trạng thái vô thường biến đổi, nên lạc biến thành khổ, tuy khổ, vẫn còn dễ chịu đựng.

3- Saṅkhāradukkha: Pháp hành khổ, đó là tất cả pháp hành hữu vi: danh pháp, sắc pháp luôn luôn bị cấu tạo bởi 4 nguyên nhân: nghiệp, tâm, thời tiết, vật thực bị sanh rồi diệt liên tục không ngừng hành hạ, nên phải chịu khổ.

Khổ có 3 loại:

1- Dukkha: Khổ thân, khổ tâm.

"Sabbe saṅkhārā dukkhā": Tất cả các pháp hữu vi đều là khổ. Pháp hữu vi đó là ngũ uẩn, 12 xứ, 8 giới,… tóm lại danh pháp, sắc pháp đều là khổ, vì danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt liên tục không ngừng, vô thường luôn luôn hành hạ (abhiṇhapaṭipīḷana).

2- Dukkhalakkhaṇa: Trạng thái khổ.

Tất cả danh pháp, sắc pháp đều có trạng thái vô thường, nên tất cả danh pháp, sắc pháp đều có trạng thái khổ.

Như Đức Phật dạy:

"Yadaniccaṃ taṃ dukkham". [17].

– Pháp nào có trạng thái vô thường, thì pháp ấy có trạng thái khổ.

Trường hợp hành giả tiến hành thiền tuệ, đến khi phát sanh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt liên tục không ngừng, nên hiện rõ trạng thái khổ luôn luôn hành hạ danh pháp, sắc pháp.

3- Dukkhānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi trạng thái khổ.

Trường hợp hành giả tiến hành thiền tuệ, khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp có trạng thái khổ, nên diệt được sự tưởng lầm, chấp lầm cho rằng: "Danh pháp, sắc pháp là lạc (sukhasaññā)".

Nếu hành giả tiếp tục tiến hành thiền tuệ, trí tuệ thiền tuệ theo quán thấy rõ, biết rõ trạng thái khổ của danh pháp, sắc pháp như vậy, có thể dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn gọi là Appaṇihitanibbāna: Vô Ái Niết Bàn (Niết Bàn không có tham ái nương nhờ).

Hành giả chứng ngộ Vô Ái Niết Bàn do định pháp chủ (samā-dhindriya) có nhiều năng lực hơn 4 pháp chủ khác (tín pháp chủ, tấn pháp chủ, niệm pháp chủ, tuệ pháp chủ); hay do năng lực của định (samādhi).

Ý Nghĩa Vô Ngã (Anattā)

"Anattā asārakaṭṭhena" [18]: Vô ngã với ý nghĩa vô dụng, bởi vì không chiều theo ý muốn của ta, không phải ta, không phải của ta; hay avasavattaṭṭhena anattā: không chiều theo ý muốn nghĩa là vô ngã.

Vô ngã có 3 loại:

1- Anattā: Pháp vô ngã, không phải ta, không phải của ta….

"Sabbe dhammā anattā": Tất cả các pháp hữu vi và pháp vô vi đều là vô ngã.

- Pháp hữu vi: Đó là ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới,... tóm lại là danh pháp và sắc pháp, là pháp được cấu tạo bởi 4 nhân duyên: nghiệp, tâm, thời tiết, vật thực đều là pháp vô ngã.

- Pháp vô vi: Đó là Niết Bàn, (kể cả pháp chế định) là pháp không bị cấu tạo do bởi 4 nhân duyên: nghiệp, tâm, thời tiết, vật thực cũng là pháp vô ngã.

2- Anattalakkhaṇa: Trạng thái vô ngã.

- Tất cả mọi danh pháp, sắc pháp nào có trạng thái khổ, thì tất cả mọi danh pháp, sắc pháp ấy đều có trạng thái vô ngã.

Như Đức Phật dạy:

"…Yaṃ dukkhaṃ, tadanattā". [19]
- Pháp nào có trạng thái khổ, thì pháp ấy có trạng thái vô ngã.

Trường hợp hành giả tiến hành thiền tuệ, khi phát sanh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt liên tục không ngừng, nên có trạng thái khổ. Khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp nào, sắc pháp nào có trạng thái khổ, thì danh pháp ấy, sắc pháp ấy cũng có trạng thái vô ngã.

3- Anattānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi trạng thái vô ngã.

Trường hợp hành giả tiến hành thiền tuệ, khi đã phát sanh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô ngã, nên diệt được sự tưởng lầm chấp lầm cho rằng: "Danh pháp, sắc pháp là ngã (attasaññā)".

Nếu hành giả tiếp tục tiến hành thiền tuệ, trí tuệ thiền tuệ theo quán thấy rõ, biết rõ trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp như vậy, có thể dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn gọi là Suññātanibbāna: Chơn Không Niết Bàn. (Niết Bàn hoàn toàn vô ngã, không phải Ta, không phải của Ta).

Hành giả chứng ngộ Chơn Không Niết Bàn này do tuệ pháp chủ (paññindriya) có nhiều năng lực hơn 4 pháp chủ khác (tín pháp chủ, tấn pháp chủ, niệm pháp chủ, định pháp chủ); hay do năng lực của trí tuệ (paññā).

Sự Liên Quan Giữa 3 Trạng Thái Chung

Ba trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp có liên quan lân nhau.

Như Đức Phật dạy rằng:

"Yadaniccaṃ, taṃ dukkhaṃ
Yaṃ dukkhaṃ, tadanattā".

"Pháp nào có trạng thái vô thường, thì pháp ấy có trạng thái khổ.
Pháp nào có trạng thái khổ, thì pháp ấy có trạng thái vô ngã".

Như vậy, mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp đều có đủ 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã.

Xét về đối tượng 3 trạng thái chung

Trí tuệ thiền tuệ đồng sanh trong mỗi dục giới đại thiện tâm, dục giới đại duy tác tâm, mỗi tâm chỉ có thể nhận biết một đối tượng mà thôi (một tâm không thể nhận biết nhiều đối tượng cùng một lúc).

– Khi nào trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường (aniccalakkhaṇa) của danh pháp, sắc pháp làm đối tượng, thì khi ấy trạng thái khổ và trạng thái vô ngã không hiện rõ.

– Khi nào trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ trạng thái khổ (dukkhalakkhaṇa) của danh pháp, sắc pháp làm đối tượng, thì khi ấy trạng thái vô thường và trạng thái vô ngã không hiện rõ.

– Khi nào trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ trạng thái vô ngã (anattalakkhaṇa) của danh pháp, sắc pháp làm đối tượng, thì khi ấy trạng thái vô thường và trạng thái khổ không hiện rõ.

Như vậy, khi một trạng thái nào hiện rõ làm đối tượng, 2 trạng thái kia, mặc dầu không hiện rõ, nhưng tiềm năng của nó có thể diệt được sự tưởng lầm, chấp lầm cho rằng: "Danh pháp, sắc pháp là thường, lạc, ngã". Bởi vì 3 trạng thái chung này có liên quan lẫn nhau.

Quan niệm về vô thường, khổ, vô ngã theo đời

Khi Đức Phật chưa xuất hiện trên thế gian, hay đối với những người không hiểu biết về giáo pháp của Đức Phật cũng có quan niệm:

- Về vô thường: Là trạng thái không bền vững lâu dài, đó là vô thường.

Ví dụ: Khi nghe một người chết, một chiếc xe hư, một cái ly bể, một sự biến đổi nào,… mọi người bảo nhau rằng: "vô thường mà!".

- Về khổ: Là trạng thái khổ thân: như lúc bị bệnh hoạn ốm đau, tai nạn, đánh đập, nóng, lạnh, đói, khát,…. Trạng thái khổ tâm: như lúc nóng giận, buồn bực, khóc than,….

Mọi người bảo nhau rằng: "khổ quá mà!".

Nhưng quan niệm về vô ngã, thì không có một ai tự mình hiểu biết rõ về pháp vô ngã cả.

Mặc dầu trong đời có quan niệm về vô thường, về khổ, cũng chỉ là một phần thô thiển trong giáo pháp của Đức Phật mà thôi.

Sự thật, trạng thái vô thường, trạng thái khổ trong giáo pháp của Đức Phật vô cùng vi tế, sâu sắc hơn gấp bội phần, chỉ có thể biết rõ bằng trí tuệ thiền tuệ như đã trình bày ở phần trước.

- Riêng quan niệm về vô ngã chỉ đặc biệt có trong giáo pháp của Đức Phật mà thôi. Ngoài ra, không có một Sa môn, một Bà la môn, một Giáo Chủ, một Chư thiên, một Phạm thiên nào có khả năng thuyết giảng về pháp vô ngã. Bởi vì, những Vị ấy chưa thấy rõ, biết rõ được danh pháp, sắc pháp thuộc Chân nghĩa pháp, nên vẫn còn tà kiến chấp ngã (attādiṭṭhi), hay ngũ uẩn tà kiến (sakkāyadiṭṭhi).

3- Tìm Hiểu Ý Nghĩa Từ "Attā" Và "Anattā"

Trong giáo pháp của Đức Phật được ghi lại trong Tam tạng: Luật tạng (Vinayapiṭaka), Kinh tạng (Suttantapiṭaka), Vi diệu pháp tạng (Abhidhammapiṭaka) thường gặp 2 danh từ "Attā" và "Anattā", mà Đức Phật thường dùng để thuyết pháp tế độ mỗi chúng sinh, cho hợp với căn duyên của chúng sinh ấy.

Nếu không hiểu rõ ý nghĩa "Attā" và "Anattā" trong mỗi trường hợp của mỗi chúng sinh ấy, thì khó mà tránh khỏi sự hiểu lầm về ý nghĩa trong từng đoạn Kinh, Luật, Vi Diệu Pháp.

3.1- Ý nghĩa danh từ "attā"

Danh từ "Attā" có 4 ý nghĩa:

Theo trong bộ từ điển Abhidhāna: từ điển từ ngữ Pāḷi, câu kệ thứ 861 giải nghĩa danh từ "Attā" rằng:

"Citte kāye sabhāve ca, so attā paramattani".

"Danh từ Attā có 4 ý nghĩa: tâm, thân, Thực tánh pháp và đại ngã".

Giải Thích:

1- Attā có ý nghĩa là: Citta: tâm.

Ví dụ:

- Attasamāpaṇidhi: Đặt để tâm đúng trong thiện pháp.

- Attamicchāpaṇidhi: Đặt để tâm sai lầm trong ác pháp.

- "Sabbe sattā bhavantu sukhitattā". [20]
"Cầu mong tất cả chúng sinh tâm thường an lạc".

- "Attā hi kira duddamo". [21]
"Thật vậy, dạy được tâm mình là khó lắm!"

- "Attānaṃ damayanti paṇṇitā". [22]
"Chư bậc Thiện trí rèn luyện, dạy tâm"….

Attā ở đây có ý nghĩa là tâm.

2- Attā có ý nghĩa là: Kāya: thân thể.

Ví dụ:

Đức Phật ban hành những giới của Tỳ khưu ni, trong đó có giới như:

- "Yā pana bhikkhunī attānaṃ vadhitvā vadhitvā rodheyya pācittiyaṃ". [23]
"Tỳ khưu ni nào tự đấm vào thân mình rồi khóc, Tỳ khưu ni ấy phạm āpatti pācittiya (ứng đối trị)".

– "Attā hi attano natthi, kuto puttā kuto dhanaṃ?". [24]
"Chính thân này, không phải nơi nương nhờ của ta, thì nương nhờ con ta, nương nhờ của cải, làm sao được?"….

Attā ở đây có ý nghĩa là thân thể.

3- Attā có ý nghĩa là: Sabhāva: Thực tánh pháp.

Ví du:

– "Attā hi attano nātho, ko hi nātho paro siyā".[25]

"Chính thiện pháp là nơi nương nhờ chân chánh của ta, ngoài thiện pháp ra, còn có ai là nơi nương nhờ của ta được?".

– "Attadīpā bhikkhave, viharatha attasaraṇā anañña-saraṇā". [26]

"Này chư Tỳ khưu, các con nên sống, chính thiện pháp là hòn đảo, chính thiện pháp là nơi nương nhờ, không nên có nơi nương nhờ nào khác."….

Attā: Ta ở đây có nghĩa là Thực tánh pháp. Đó là tam giới thiện pháp, siêu tam giới thiện pháp, là nơi nương nhờ chân chính của ta.

4- Attā có ý nghĩa là: Parama attā: Đại ngã, theo tà kiến của ngoại đạo.

Nhóm ngoại đạo có tà kiến cho rằng: "Tất cả vạn vật, vũ trụ này do Parama Attā tạo ra, gọi là Đấng Tạo Hóa".

Parama Attā: Đại ngã theo tà kiến của nhóm ngoại đạo này, ý nghĩa nghịch với Anattā: Vô ngã trong giáo pháp của Đức Phật.

Như vậy, trong 4 ý nghĩa của Attā, có 3 ý nghĩa là Tâm, Thân, Thực tánh pháp thuộc về chánh kiến. Duy nhất chỉ có Parama Attā: Đại ngã theo quan niệm của nhóm ngoại đạo thuộc về tà kiến mà thôi.

Attādiṭṭhi: Tà kiến chấp ngã, hoặc Attānudiṭṭhi: Tà kiến theo chấp ngã: là tà kiến thấy sai, hiểu lầm, chấp lầm từ danh pháp, từ sắc pháp cho là Ta, là Ngã cũng trong ý nghĩa tà kiến này.

3.2- Ý nghĩa danh từ "Anattā"

Định nghĩa danh từ Anattā như sau :

"Na attā anattā, natthi attā etassa khandhapañcakassa’ti vā anattā".

- Tất cả các pháp không phải ta, không phải của ta, là pháp vô ngã, hay ngũ uẩn ấy không phải ta, không phải của ta cũng là pháp vô ngã.

Ý nghĩa Anattā: Vô ngã ở đây là phủ định Attā: ngã, ngã sở, phủ định cái ta, của ta.

Trong Chú giải dạy, danh từ Anattā có 4 ý nghĩa [27] :

1- Avasavattanaṭṭha: Anattā có ý nghĩa là không chiều theo ý muốn của một ai.
2- Asāmikaṭṭha: Anattā có ý nghĩa là vô chủ, không có ai làm chủ cả.
3- Suññataṭṭha: Anattā có ý nghĩa là "không". Nghĩa là không phải ta, không phải của ta.
4- Attapaṭikkhepaṭṭha: Anattā có ý nghĩa là phủ nhận thuyết tà kiến theo chấp ngã của nhóm ngoại đạo.

Đó là 4 ý nghĩa của Anattā: vô ngã.

* Anattā và Attā trong Kinh Anattalakkhaṇasutta [28]

Đức Phật dạy rằng:

- "Rūpaṃ bhikkhave anattā,
Rūpañca hidaṃ bhikkhave attā abhavissa, nayidaṃ rūpaṃ ābādhāya saṃvatteyya.
Labbhetha ca rūpe "evaṃ me rūpaṃ hotu, evaṃ me rūpaṃ mā ahosī’ti".

- Yasmā ca kho bhikkhave rūpaṃ anattā, tasmā rūpaṃ ābādhāya saṃvattati.
Na ca labbhati rūpe "evaṃ me rūpaṃ hotu, evaṃ me rūpaṃ mā ahosī’ti…".

- "Này Chư Tỳ khưu, sắc uẩn là pháp vô ngã.
"Thật vậy, nếu sắc uẩn này là ngã, thì sắc uẩn này không có bệnh, không bị hoại bao giờ.

"Các con có thể mong muốn được trong sắc uẩn này rằng: "Xin cho sắc uẩn của tôi được như thế này, xin cho sắc uẩn của tôi đừng như thế kia".

"Này chư Tỳ khưu, bởi vì sắc uẩn là pháp vô ngã, cho nên sắc uẩn này có bệnh, bị biến đổi.

"Các con không thể mong muốn được trong sắc uẩn này rằng: "Xin cho sắc uẩn của tôi được như thế này, xin cho sắc uẩn của tôi đừng như thế kia…".

Cũng như vậy, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn cũng đều là pháp vô ngã....

Qua đoạn kinh trên, Attā: Ngã trong nghĩa tà kiến theo chấp ngã, thấy sai chấp lầm từ sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn cho là Ta, Ngã, đối nghịch với pháp vô ngã.

4- Những Chi Tiết Của 3 Trạng Thái Chung

Tất cả mọi danh pháp, sắc pháp thuộc trong tam giới đều có 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã.

Trong mỗi trạng thái chung của danh pháp, sắc pháp ấy, có nhiều trạng thái chi tiết được khai triển rộng trong bộ Visuddhimagga, phần Maggāmaggañāṇavisuddhi như sau:

4.1- Trạng thái vô thường có 10 loại

1- Aniccato: Trạng thái không thường.

2- Adhuvato: Trạng thái không bền vững.

3- Asārakato: Trạng thái vô dụng, không cốt lõi.

4- Calato: Trạng thái biến động.

5- Palakato: Trạng thái tiêu hoại.

6- Vipariṇāmadhammato: Trạng thái biến đổi là thường.

7- Maraṇadhammato: Trạng thái hủy diệt (chết) là thường.

8- Vibhavato: Trạng thái bị hoại.

9- Saṅkhato: Trạng thái bị cấu tạo.

10- Pabhaṅguto: Trạng thái bị tan rã.

Đó là 10 chi tiết nêu lên trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp.

4.2- Trạng thái khổ có 25 loại

1- Dukkhato: Trạng thái khó chịu.

2- Bhayato: Trạng thái đáng kinh sợ.

3- Ītito: Trạng thái khốn đốn.

4- Upaddavato: Trạng thái tai nạn nguy hiểm.

5- Upasaggato: Trạng thái cản trở.

6- Rogato: Trạng thái bệnh tật.

7- Ābādhato: Trạng thái đau ốm.

8- Gandato: Trạng thái ung nhọt.

9- Sallato: Trạng thái tên độc.

10- Aghato: Trạng thái xấu xa.

11- Atāṇato: Trạng thái không che chở, chống đỡ được.

12- Aleṇato: Trạng thái không ẩn náu được.

13- Asaraṇato: Trạng thái không nương nhờ được.

14- Ādīnavato: Trạng thái tội chướng.

15- Aghamūlato: Trạng thái nguồn gốc của đau khổ.

16- Sāsavato: Trạng thái phiền não trầm luân.

17- Vadhakato: Trạng thái sát hại.

18- Mārāmisato: Trạng thái mồi của ma vương.

19- Jātidhammato: Trạng thái tái sanh là thường.

20- Jarādhammato: Trạng thái già là thường.

21- Byādhidhammato: Trạng thái bệnh là thường.

22- Sokadhammato: Trạng thái sầu não là thường.

23- Paridevadhammato: Trạng thái than khóc là thường.

24- Upāyāsadhammato: Trạng thái thống khổ cùng cực là thường.

25- Saṅkilesikadhammato: Trạng thái ô nhiễm bởi phiền não là thường.

Đó là 25 chi tiết nêu lên trạng thái khổ của danh pháp, sắc pháp.

4.3- Trạng thái vô ngã có 5 loại

1- Anattato: Trạng thái không phải ta, của ta.

2- Parato: Trạng thái khác lạ (không phải ta, của ta).

3- Rittato: Trạng thái trống rỗng.

4- Tucchato: Trạng thái hư huyễn.

5- Suññato: Trạng thái không không.

Đó là 5 chi tiết nêu lên trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp.

Như vậy, 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp, khi được phân loại ra chi tiết gồm có 40 trạng thái.

Mỗi trạng thái chi tiết của danh pháp, sắc pháp này, được hiện rõ tùy theo căn duyên của mỗi hành giả tiến hành thiền tuệ, và cũng có thể dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt được phiền não.

5- Pháp Che Án 3 Trạng Thái Chung

Danh pháp, sắc pháp thuộc về Chân nghĩa pháp có những sự thật hiển nhiên như:

- Sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp là sự thật hiển nhiên.

- Ba trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp là sự thật hiển nhiên.

* Sự thật hiển nhiên ấy không hiện rõ, do bởi nguyên nhân nào che phủ thực tánh?
* Do pháp nào che án?

5.1- Nguyên nhân che phủ thực tánh

Những thực tánh của danh pháp, sắc pháp bị bao trùm phủ kín bởi màn "vô minh" (avijjā) tối tăm dày đặc, có tâm tà kiến (diṭṭhi) thấy sai, chấp lầm từ nơi danh pháp, sắc pháp cho là "Ta, người, đàn ông, đàn bà, chúng sinh, vật này, vật kia",…. Lại còn đặt tên bằng những danh từ ngôn ngữ chế định gắn lên các danh pháp, sắc pháp ấy. Được truyền đạt từ đời này qua đời khác, từ người này sang người kia, từ ngàn xưa cho đến ngày nay trở thành thói quen, nên chỉ biết có một sự thật theo đời do ngôn ngữ chế định ấy, mà không còn biết đến sự thật theo Chân nghĩa pháp.

Do đó, vô minh hay si tâm là nguyên nhân chính che án, phủ kín thực tánh của tất cả mọi danh pháp, sắc pháp. Bởi vì bản chất của si tâm có 4 đặc tính riêng biệt là:

– Añāṇalakkhaṇo: Trạng thái không biết chân lý Tứ thánh đế.

– Ārammaṇasabhāvacchādanaraso: Phận sự che án, phủ kín thực tánh các pháp.

– Andhakārapaccuppaṭṭhāno: Làm cho tối tăm là quả hiện hữu.

– Ayonisomanasikārapadaṭṭhāno: Sự hiểu biết sai lầm trong tâm không đúng trạng thái của các pháp, là nguyên nhân gần để phát sanh si tâm.

5.2- Phương pháp tiêu diệt màn vô minh

Khi Đức Phật chưa xuất hiện trên thế gian này, tất cả chúng sinh bị bao phủ, che kín bởi màn vô minh tối tăm dày đặc, không có một Sa môn, Bà la môn hay một Giáo chủ nào biết đến trạng thái thực tánh của các pháp. Chính Đức Phật là bậc đã hoàn toàn diệt đoạn tuyệt được màn vô minh, bằng ánh sáng trí tuệ thiền tuệ siêu tam giới, tất cả mọi sự thật chân lý, trạng thái thực tánh của các pháp hiển nhiên hiện rõ. Chính Đức Phật đã chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Arahán đầu tiên. Ngài gọi là bậc Chánh Đẳng Giác cao thượng nhất trong 10 ngàn thế giới chúng sinh.

Đức Phật đã thuyết pháp giáo huấn, tế độ chúng sinh có duyên lành bằng pháp hành thiền tuệ, làm cho ánh sáng trí tuệ thiền tuệ phát sanh, có khả năng tiêu diệt được màn vô minh tăm tối, sự thật trạng thái thực tánh của các pháp hiển nhiên hiện rõ, dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế,… như Đức Phật.

Diệt vô minh có 2 giai đoạn

– Giai đoạn ngăn ngừa vô minh.
– Giai đoạn diệt đoạn tuyệt vô minh.

* Giai đoạn ngăn ngừa vô minh bằng cách nào?

Vô minh hay si tâm phát sanh do nguyên nhân gần chính là ayonisomanasikāra: Sự hiểu biết sai lầm trong tâm, không đúng theo 4 trạng thái của danh pháp, sắc pháp là:

– Danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô thường (anicca), thì hiểu biết sai lầm cho rằng: "thường" (nicca).

– Danh pháp, sắc pháp có trạng thái khổ (dukkha), thì hiểu biết sai lầm cho rằng: "lạc" (sukha).

– Danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô ngã (anattā), thì biết hiểu sai lầm cho rằng: "ngã" (attā).

– Danh pháp, sắc pháp có trạng thái bất tịnh (asubha) thì biết hiểu sai lầm cho rằng: "tịnh" (subha).

Do sự hiểu sai lầm trong tâm không đúng theo 4 trạng thái của danh pháp, sắc pháp, là nguyên nhân gần để phát sanh si tâm, gọi là vô minh làm che án, phủ kín thực tánh của danh pháp, sắc pháp:

– Không thấy rõ trạng thái riêng của danh pháp, sắc pháp.

– Không thấy rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp.

– Không thấy rõ 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp.

Phương pháp ngăn ngừa vô minh

Hành giả tiến hành thiền tuệ luôn luôn có yonisomanasikāra: Sự hiểu biết trong tâm đúng theo 4 trạng thái của danh pháp, sắc pháp là:

– Danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô thường, thì trí tuệ hiểu biết đúng rằng: "vô thường".

– Danh pháp, sắc pháp có trạng thái khổ, thì trí tuệ hiểu biết đúng rằng: "khổ".

– Danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô ngã, thì trí tuệ hiểu biết đúng rằng: "vô ngã".

– Danh pháp, sắc pháp có trạng thái bất tịnh, thì trí tuệ hiểu biết đúng rằng: "bất tịnh".

Do sự hiểu biết trong tâm đúng theo 4 trạng thái của danh pháp, sắc pháp, là nguyên nhân gần để phát sanh trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ thực tánh của tất cả mọi danh pháp, sắc pháp.

– Thấy rõ trạng thái riêng của danh pháp, sắc pháp.

– Thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp.

– Thấy rõ, biết rõ 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế….

Đó là phương pháp ngăn ngừa được "vô minh" (si tâm) không phát sanh, để cho "minh" thiện tâm hợp với trí tuệ phát sanh thấy rõ, biết rõ sự thật thực tánh của danh pháp, sắc pháp.

* Giai đoạn diệt đoạn tuyệt vô minh

Hành giả tiến hành thiền tuệ có yonisomanasikāra: sự hiểu biết trong tâm đúng 4 trạng thái của danh pháp, sắc pháp làm nền tảng, cho đến khi trí tuệ thiền tuệ siêu tam giới phát sanh chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo Tuệ có Niết Bàn làm đối tượng, có khả năng diệt đoạn tuyệt được hoàn toàn vô minh, cùng với tất cả mọi tham ái, mọi phiền não, mọi ác pháp.

5.3- Ba pháp che án 3 trạng thái chung

Phương pháp diệt 3 pháp che án

3 trạng thái chung:

– Trạng thái vô thường.
– Trạng thái khổ.
– Trạng thái vô ngã.

Sở dĩ 3 trạng thái chung của danh pháp, sắc pháp không hiện rõ, bởi vì có 3 pháp che án là:

1- Dòng sanh diệt liên tục (santati) che án trạng thái vô thường, làm cho trạng thái vô thường không hiện rõ.

2- Các oai nghi (iriyapatha) che án trạng thái khổ, làm cho trạng thái khổ không hiện rõ.

3- Ngã tưởng đồng nhất (ghanasaññā) che án trạng thái vô ngã, làm cho trạng thái vô ngã không hiện rõ.

1- Dòng sanh diệt liên tục che án trạng thái vô thường

Đức Phật dạy: "Sabbe saṅkhārā aniccā…".
"Tất cả các pháp hữu vi đều có trạng thái vô thường".

Pháp hữu vi: Đó là "danh pháp, sắc pháp, ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới",… đều có trạng thái vô thường, vì danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt liên tục không ngừng, có rồi lại không.

Như vậy, trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp là sự thật hiển nhiên; vậy, do nguyên nhân nào làm cho trạng thái vô thường không hiện rõ?

Trong Bộ Thanh Tịnh Đạo dạy:

"Aniccalakkhaṇaṃ tāva udayabbayānaṃ amanasikārā santatiyā paṭicchannattā na upatthāti". [29]
"Trước hết, trạng thái vô thường không hiện rõ, vì dòng sanh diệt liên tục (santati) của danh pháp, sắc pháp vô cùng mau lẹ, làm che án trạng thái vô thường; bởi do không có trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp".

* Dòng sanh diệt che án trạng thái vô thường như thế nào?

Ví dụ thô thiển dễ hiểu để so sánh:

– Ví dụ 1:

Khi ta nhìn thấy những hình ảnh trên màn hình ti vi, cứ 1 giây đồng hồ có khoảng 24 hình liên tục quay nhanh qua máy chiếu phim, ta nhìn thấy hình ảnh những tài tử diễn viên có những cử chỉ, hành động, lời nói tự nhiên bình thường. Nhưng ta không thể nhìn thấy từng mỗi tấm phim cách khoảng nhau và cũng không nghe từng tiếng nói cách khoảng nhau.

Vì đó là sự liên tục quay nhanh của cuộn phim.

– Ví dụ 2:

Khi ta nhìn thấy bóng đèn điện đang cháy sáng, trong khi ấy, cứ mỗi giây đồng hồ có khoảng 50-60 lần dòng điện cháy sáng rồi tắt liên tục không ngừng, trong suốt thời gian bóng đèn cháy sáng. Nhưng ta vẫn nhìn thấy bóng đèn cháy sáng bình thường, ta không thể nhìn thấy bóng đèn cháy sáng rồi tắt liên tục.

Vì đó là do sự liên tục của dòng điện cháy sáng rồi tắt.

Nói về sự sanh, sự diệt của mỗi danh pháp mỗi sắc pháp, thì vô cùng mau lẹ phi thường.

Trong chú giải dạy rằng: "Chỉ một lần búng đầu ngón tay, tâm và tâm sở (danh pháp) sanh rồi diệt liên tục 1000 tỷ lần". [30]

Như vậy, nếu không có trí tuệ thiền tuệ bén nhạy, thì không thể nào thấy rõ sự sanh, sự diệt liên tục mau lẹ không ngừng của danh pháp, sắc pháp.

Nếu không thấy được sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp, thì không thể thấy được trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp.

Sở dĩ, không thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp, là vì dòng liên tục sanh rồi diệt của danh pháp, sắc pháp vô cùng mau lẹ làm che án trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp.

* Phương pháp cắt đứt dòng sanh diệt liên tục, để thấy rõ trạng thái vô thường.

Trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp được hiện rõ, chỉ khi nào có trí tuệ thiền tuệ bén nhạy. Thật vậy, chỉ có trí tuệ thiền tuệ bén nhạy mới có khả năng cắt đứt dòng sanh diệt liên tục mau lẹ của danh pháp, sắc pháp, nên trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp hiển nhiên hiện rõ.

Như trong Bộ Thanh Tịnh Đạo dạy:

"Udayabbayam pana pariggahetvā santatiyā vikopitāya aniccalakkhaṇaṃ yathāvasarasato upaṭṭhāti". [31]
"Hành giả tiến hành thiền tuệ, đến khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp, mới có thể cắt đứt (diệt) được dòng sanh, diệt của danh pháp, sắc pháp. Khi ấy, trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp hiện rõ đúng theo thực tướng của nó".

Trí tuệ thiền tuệ nào có thể thấy rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp?

Trong 16 loại trí tuệ của pháp hành thiền tuệ, trí tuệ có khả năng thấy rõ biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp ngay trong hiện tại; bắt đầu từ Trí tuệ thiền tuệ thứ tư gọi là Udayabbayañāṇa: Trí tuệ thiền tuệ thấy rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp ngay trong hiện tại.

Thật vậy, chính trí tuệ thiền tuệ thứ tư này bắt đầu có khả năng thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp ngay trong hiện tại là:

– Danh pháp nào sanh, do nhân duyên nào sanh.

– Danh pháp ấy diệt, do nhân duyên ấy diệt.

– Sắc pháp nào sanh, do nhân duyên nào sanh.

– Sắc pháp ấy diệt, do nhân duyên ấy diệt.

Cho nên, Trí tuệ thiền tuệ thứ tư mới bắt đầu chính thức gọi là trí tuệ thiền tuệ, vì có khả năng đặc biệt cắt đứt được dòng liên tục (santati) sanh diệt mau lẹ không ngừng của danh pháp, sắc pháp.

Do đó, trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp hiển nhiên hiện rõ đúng theo thực tướng của nó và ngoài trạng thái vô thường ra, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã cũng có thể hiện rõ, vì 3 trạng thái chung này có sự liên quan với nhau.

Bắt đầu từ trí tuệ thiền tuệ thứ tư này cho đến trí tuệ thiền tuệ thứ 12 gọi là Anulomañāṇa có khả năng thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp.

Qua đến trí tuệ thiền tuệ thứ 13 gọi là Gotrabhuñāṇa có Niết Bàn làm đối tượng, thì không còn thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp nữa. Dĩ nhiên cũng không còn thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã. Nhưng tiềm năng của 3 trạng thái này có tầm quan trọng, đóng vai trò quyết định chọn con đường giải thoát (vimokkha), và dẫn đến sự chứng ngộ các loại Niết Bàn.

Trí tuệ thiền tuệ thấy rõ sự sanh sự diệt rất cao thượng.

Trong Pháp cú kệ, Đức Phật dạy rằng:

"Yo ca vassasataṃ jīve, apassaṃ udayabbayaṃ,
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo, passato udayabbayaṃ". [32]

Người nào dầu sống đến trăm năm,
Mà không có trí tuệ thiền tuệ,
Không thấy sự sanh và sự diệt,
Không bằng hành giả sống một ngày,

Có trí tuệ thiền tuệ phát sanh,
Thấy rõ sự sanh và sự diệt,
Của danh pháp lẫn sắc pháp,
Cuộc đời cao thượng biết dường nào!

2- Các oai nghi che án trạng thái khổ

Đức Phật dạy rằng:

"Sabbe saṅkhārā dukkhā…". [33]
"Tất cả các pháp hữu vi đều có trạng thái khổ".

Pháp hữu vi: Đó là danh pháp, sắc pháp, ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới,… đều có trạng thái khổ.

Như vậy, trạng thái khổ của danh pháp, sắc pháp là sự thật hiển nhiên. Nhưng do nguyên nhân nào làm cho trạng thái khổ không hiện rõ?

Trong Bộ Thanh Tịnh Đạo dạy rằng:

"Dukkhalakkhaṇaṃ abhiṇhasampaṭipīḷanassa amanasi-kārā iriyapathehi paṭicchannattā na upaṭṭhāti". [34]
"Trạng thái khổ không hiện rõ, vì bị các oai nghi che án, bởi do không có trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp sanh rồi diệt luôn luôn hành hạ".

* Các oai nghi che án trạng thái khổ như thế nào?

4 oai nghi chính là: đi, đứng, ngồi, nằm, và các oai nghi phụ: như bước tới, bước lui, quay bên trái, quay bên phải, co tay vào, co chân vào, duỗi tay ra, duỗi chân ra,….

Tất cả oai nghi này thuộc về sắc pháp phát sanh từ tâm luôn luôn có sự sanh sự diệt liên tục không ngừng, nên có trạng thái vô thường luôn luôn hành hạ, bắt buộc phải thay đổi từ oai nghi cũ sang oai nghi mới, để giảm bớt khổ ở oai nghi cũ. Và cứ thế, thay đổi liên tục không ngừng, nên phải chịu trạng thái khổ triền miên.

Sự thật trạng thái khổ là vậy, nhưng vì không có trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ các oai nghi là nơi sanh khổ, cứ thay đổi các oai nghi theo thói quen tự nhiên. Không có trí tuệ thiền tuệ quan tâm thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của các oai nghi, nên không thấy rõ trạng thái vô thường luôn luôn hành hạ, phải chịu khổ.

Do đó, các oai nghi che án trạng thái khổ.

* Phương pháp làm cho trạng thái khổ hiện rõ.

Trạng thái khổ của danh pháp, sắc pháp được hiện rõ, chỉ khi nào hành giả tiến hành thiền tuệ có trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt liên tục của các oai nghi; thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường luôn luôn hành hạ, thì khi ấy, trạng thái khổ của sắc pháp, danh pháp hiển nhiên hiện rõ.

Như trong Bộ Thanh Tịnh Đạo dạy rằng:

"Abhiṇhasampaṭipīḷanaṃ manasikatvā, iriyapathe ugghāṭite, dukkhalakkhaṇaṃ yathāvasarasato upaṭṭhāti…". [35]
"Hành giả tiến hành thiền tuệ, khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ biết rõ trạng thái vô thường luôn luôn hành hạ các oai nghi, nên oai nghi không còn che án trạng thái khổ, khi ấy trạng thái khổ của sắc pháp danh pháp hiện rõ đúng theo thực tướng của nó".

Hành giả tiến hành thiền tuệ, đến khi trí tuệ thiền tuệ thứ tư gọi là udayabbayañāṇa: trí tuệ thiền tuệ thấy rõ sự sanh, sự diệt liên tục của danh pháp, sắc pháp, ngay trong hiện tại, nên hiện thấy rõ trạng thái vô thường luôn luôn hành hạ, phải chịu khổ, khi ấy trạng thái khổ hiện rõ đúng theo thực tướng của danh pháp, sắc pháp.

3- Ngã tưởng đồng nhất che án trạng thái vô ngã

Đức phật dạy: "Sabbe dhammā anattā". [36] 
"Tất cả các pháp đều có trạng thái vô ngã".

Pháp ở đây là danh pháp, sắc pháp, ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới,… đều có trạng thái vô ngã, vì các pháp ấy có trạng thái vô thường, trạng thái khổ.

Như vậy, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp là sự thật hiển nhiên; vậy, do nguyên nhân nào trạng thái vô ngã không hiện rõ?

Trong Bộ Thanh Tịnh Đạo dạy:

"Anattalakkhaṇaṃ nānādhātuvinibhogassa amanasikārā, ghanena paṭicchannattā na upaṭṭhāti…". [37]
"Trạng thái vô ngã không hiện rõ, vì bị ngã tưởng đồng nhất che án, bởi do không có trí tuệ thiền tuệ thấy rõ biềt rõ, phân biệt rõ mỗi danh pháp mỗi sắc pháp riêng biệt với nhau".

* Ngã tưởng đồng nhất che án trạng thái vô ngã như thế nào?

Ngã tưởng đồng nhất (ghanasaññā) là sự tưởng lầm ở danh pháp, sắc pháp cho là "Ta độc nhất" mà thôi.

Ngã tưởng đồng nhất có 4 loại:

1- Santatighana: Ngã tưởng đồng nhất liên tục.

2- Samūhaghana: Ngã tưởng đồng nhất tổng hợp.

3- Kiccaghana: Ngã tưởng đồng nhất phận sự.

4- Ārammaṇaghana: Ngã tưởng đồng nhất đối tượng.

1- Ngã tưởng đồng nhất liên tục như thế nào?

Ngã tưởng đồng nhất liên tục là thấy sai tưởng lầm cho rằng: "Chỉ có Ta liên tục làm mọi phận sự là: ta thấy, ta nghe, ta ngửi, ta nếm, ta tiếp xúc, ta biết… ta đi, ta đứng, ta ngồi, ta nằm,"…. Gọi là ngã tưởng đồng nhất liên tục.

Sự thật theo Chân nghĩa pháp, mỗi tâm phát sanh trong một lộ trình tâm (vīthicitta) có một phận sự, khi làm xong phận sự ấy rồi diệt, lại làm duyên cho tâm khác phát sanh làm phận sự xong, rồi diệt. Và cứ thế, hết lộ trình tâm này sang lộ trình tâm khác, diễn tiến tiếp tục trong cuộc sống hằng ngày.

Ví dụ:

– Khi nhãn thức tâm nhìn thấy một hình ảnh, phải nương nhờ ở nhãn môn lộ trình tâm và ý môn lộ trình tâm phát sanh liên tục tiếp nối nhau. Mỗi lộ trình tâm chỉ có thể ghi nhận một điểm nào đó, nhờ qua nhiều lộ trình tâm ghi nhận được hình ảnh, biết sắc trần qua hình dạng, cho đến biết ý nghĩa và tên gọi hình dạng ấy.

– Khi nhĩ thức tâm nghe một câu nói, phải nương nhờ ở nhĩ môn lộ trình tâm và ý môn lộ trình tâm phát sanh liên tục tiếp nối với nhau qua nhiều lộ trình tâm, làm phận sự nghe thanh trần, âm thanh, và hiểu rõ ý nghĩa câu nói ấy….

– Khi đi, đó là sắc đi, là sắc pháp phát sanh từ tâm, qua quá trình diễn tiến sanh rồi diệt liên tục của tâm, sắc đi cũng diễn tiến sanh rồi diệt liên tục không ngừng, cho đến khi thay đổi sang oai nghi khác.

Cũng như vậy, sắc đứng, sắc ngồi, sắc nằm,… mỗi sắc pháp có phận sự riêng biệt với nhau.

Thế mà ngã tưởng đồng nhất liên tục thấy sai, tưởng lầm, chấp lầm từ nhãn thức tâm nhìn thấy sắc trần cho là "ta thấy".

Cũng như vậy, ngã tưởng đồng nhất thấy sai, tưởng lầm, chấp lầm từ nhĩ thức tâm nghe thanh trần cho là "ta nghe",….

Ngã tưởng đồng nhất liên tục thấy sai, tưởng lầm, chấp lầm từ "sắc đi" cho là "ta đi", từ "sắc đứng" cho là "ta đứng", từ "sắc ngồi" cho là "ta ngồi", từ "sắc nằm" cho là "ta nằm"… chỉ có một mình Ta liên tục làm mọi phận sự.

Do đó, ngã tưởng đồng nhất liên tục, làm che án trạng thái vô ngã.

2- Ngã tưởng đồng nhất tổng hợp như thế nào?

Ngã tưởng đồng nhất tổng hợp thấy sai, chấp lầm rằng: "Chỉ có Ta duy nhất là chủ, ta muốn làm phận sự gì theo ý của Ta".

Sự thật theo Chân nghĩa pháp là: mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp phát sanh đều do nhân duyên, để làm phận sự, khi làm xong phận sự ấy rồi diệt, lại làm duyên cho tâm khác phát sanh. Và cứ như vậy, tiếp tục từ tâm này sang tâm khác liên tục không ngừng.

Ví dụ:

– Nhãn thức tâm phát sanh do nhân duyên sắc trần tiếp xúc với nhãn tịnh sắc. Do sự tiếp xúc ấy, phát sanh nhãn thức tâm làm phận sự nhìn thấy sắc trần, hình dạng.

– Nhĩ thức tâm phát sanh do nhân duyên thanh trần tiếp xúc với nhĩ tịnh sắc. Do sự tiếp xúc ấy, phát sanh nhĩ thức tâm, làm phận sự nghe thanh trần, âm thanh….

Cũng như vậy, tỷ thức tâm, thiệt thức tâm, thân thức tâm, ý thức tâm phát sanh do nhân duyên của mỗi tâm riêng biệt.

- Sắc đi phát sanh là do tâm nghĩ đi. Do tâm nghĩ đi ấy, phát sanh ra chất gió phát sanh từ tâm. Do nhờ chất gió ấy, vận chuyển toàn thân di chuyển bước đi từng bước một, gọi là sắc đi, là sắc pháp phát sanh từ tâm (cittajarūpa).

Cũng như vậy, sắc đứng, sắc ngồi, sắc nằm cũng là sắc pháp phát sanh từ tâm theo mỗi nhân duyên riêng biệt.

Danh pháp, sắc pháp nương nhờ lẫn nhau để phát sanh như sau:

– Danh pháp phát sanh do nương nhờ sắc pháp.

– Sắc pháp phát sanh do nương nhờ danh pháp.

– Danh pháp phát sanh do nương nhờ danh pháp.

– Sắc pháp phát sanh do nương nhờ sắc pháp.

Thế mà ngã tưởng đồng nhất tổng hợp không thấy rõ không biết rõ nhân duyên phát sanh mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp nên thấy sai, tưởng lầm, chấp lầm rằng: "Chỉ có Ta là chủ làm mọi phận sự".

Do đó, ngã tưởng đồng nhất tổng hợp làm che án mọi trạng thái vô ngã.

3- Ngã tưởng đồng nhất phận sự như thế nào?

Ngã tưởng đồng nhất phận sự thấy sai, tưởng lầm, chấp lầm rằng: "Chỉ có Ta làm mọi phận sự", như: ta thấy, ta nghe, ta ngửi, ta nếm, ta tiếp xúc, ta biết.

Sự thật theo Chân nghĩa pháp, mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp đều có phận sự riêng biệt nhau, không giống nhau.

Ví dụ:

– Nhãn thức tâm chỉ có 1 phận sự là nhìn thấy sắc trần, hình dạng mà thôi, không thể biết được người, đàn ông, đàn bà, chúng sinh….

- Nhĩ thức tâm chỉ có 1 phận sự là nghe thanh trần, âm thanh mà thôi, không thể biết được tiếng Anh, tiếng Pháp….

- Tỷ thức tâm chỉ có 1 phận sự là ngửi hương trần, các loại mùi mà thôi, không thể biết được mùi thơm gì, mùi hôi gì….

- Thiệt thức tâm chỉ có 1 phận sự là nếm vị trần, các loại vị mà thôi, không thể biết được vị ngọt của đường, vị chua của chanh….

- Thân thức tâm chỉ có 1 phận sự là tiếp xúc trần, cứng, mềm, nóng, lạnh, phồng, xẹp mà thôi, không thể biết được sự cứng của sắt, sự mềm của bông….

- Ý thức tâm có nhiều phận sự, có thể biết Chân nghĩa pháp và Chế định pháp, người, đàn ông, đàn bà, chúng sinh, vật này, vật kia, tiếng Anh, tiếng Pháp, các môn học, nghề nghiệp….

Mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp đều có phận sự riêng biệt với nhau như vậy. Thế mà ngã tưởng đồng nhất phận sự thấy sai, tưởng lầm, chấp lầm cho rằng: "chỉ có Ta duy nhất làm mọi phận sự".

Do đó ngã tưởng đồng nhất phận sự làm che án trạng thái vô ngã.

4- Ngã tưởng đồng nhất đối tượng như thế nào?

Ngã tưởng đồng nhất đối tượng thấy sai, tưởng lầm, chấp lầm từ tất cả mọi đối tượng khác nhau cho là "Ta, Ngã".

Ví dụ:

– Khi sắc đi, chấp là "Ta đi".

– Khi sắc đứng, chấp là "Ta đứng".

– Khi sắc ngồi, chấp là "Ta ngồi".

– Khi sắc nằm, chấp là "Ta nằm",….

– Khi tâm biết, chấp là "Ta biết",….

Sự thật theo Chân nghĩa pháp thì sắc đi, sắc đứng, sắc ngồi, sắc nằm… thuộc về sắc pháp; tâm biết thuộc về danh pháp.

Thế mà ngã tưởng đồng nhất đối tượng thấy sai, tưởng lầm, chấp lầm từ tất cả các đối tượng khác nhau chấp là "Ta, Ngã".

Do đó, ngã tưởng đồng nhất đối tượng làm che án trạng thái vô ngã.

* Phương pháp làm cho trạng thái vô ngã hiện rõ

Trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp được hiện rõ, khi hành giả tiến hành thiền tuệ, có trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ, phân tích rõ mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp riêng biệt nhau; thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt liên tục của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp, nên hiện thấy rõ trạng thái vô ngã.

Như trong Bộ Thanh Tịnh Đạo dạy:

"Nānādhātuyo vinibbhujitvā ghanavinibbhoge kate anattalakkhaṇaṃ yathāvasarasato upaṭṭhāti". [38]
"Hành giả tiến hành thiền tuệ, khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ, phân biệt rõ mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp riêng biệt, có sự sanh sự diệt không ngừng, nên ngã tưởng đồng nhất bị phân tích rời rạc riêng rẽ. Khi ấy, trạng thái vô ngã hiện rõ đúng theo thực tướng của nó".

Hành giả tiến hành thiền tuệ đến khi trí tuệ thiền tuệ thứ tư gọi là Udayabbayañāṇa: trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ sự sanh sự diệt của mỗi danh pháp, mỗi sắc pháp ngay trong hiện tại, nên hiện thấy rõ trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp đúng theo thực tánh của các pháp.

Trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp có sự liên quan với nhau.

– Nếu trạng thái nào bị che án thì 2 trạng thái kia cũng bị che án.

– Nếu trạng thái nào được hiện rõ, thì 2 trạng thái kia cũng được hiện rõ.

Trong 3 trạng thái chung của danh pháp, sắc pháp, một trạng thái chung nào trở thành đối tượng của trí tuệ thiền tuệ, thì 2 trạng thái còn lại không hiện rõ. Mặc dầu 2 trạng thái kia không hiện rõ theo đối tượng, nhưng sự liên quan giữa 3 trạng thái chung và tiềm năng của 3 trạng thái ấy, đều có khả năng diệt được sự tưởng lầm liên quan đến mỗi trạng thái ấy là:

– Khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường của danh pháp, sắc pháp, thì diệt được "thường tưởng" (niccasaññā): sự tưởng lầm cho rằng: "thường".

– Khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ trạng thái khổ của danh pháp, sắc pháp, thì diệt được "lạc tưởng" (sukhasaññā): sự tưởng lầm cho rằng: "lạc".

– Khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp, thì diệt được "ngã tưởng" (attasaññā): sự tưởng lầm cho rằng: "ngã ".

Do 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp có sự liên quan với nhau, nên khi 1 trạng thái nào hiện rõ làm đối tượng, cũng có thể diệt được sự tưởng lầm "thường, lạc, ngã" nơi danh pháp, sắc pháp.
Logged

Karma Yoga, con đường của Hành Động không có tự ngã.
TrieuTuLong
Full Member
***

Bài viết: 485



Xem hồ sơ cá nhân
Người gởi: TrieuTuLong
Trả lời #3 vào lúc: 30-08-2019, 05:42 PM

II- PHÁP HÀNH THIỀN TUỆ (tiếp theo)

5- Tứ Thánh Đế

Tứ thánh đế (Ariyasacca) là 4 sự thật chân lý mà bậc Thánh nhân đã chứng ngộ, đó là:

1- Khổ thánh đế (Dukkha ariyasacca): Danh pháp, sắc pháp trong tam giới là khổ, là chân lý mà bậc Thánh nhân đã chứng ngộ.

2- Nhân sanh Khổ thánh đế (Dukkhasamudaya ariyasacca): Tâm tham ái là Nhân sanh Khổ thánh đế, là chân lý mà bậc Thánh nhân đã chứng ngộ; hay gọi tắt là: Tập thánh đế (Samudaya ariyasacca).

3- Diệt Khổ thánh đế (Dukkhanirodha ariyasacca): Niết Bàn là pháp diệt Khổ thánh đế, là chân lý mà bậc Thánh nhân đã chứng ngộ; hay gọi tắt là: Diệt thánh đế (Nirodha ariyasacca).

4- Pháp hành diệt Khổ thánh đế (Dukkhanirodhagāminīpaṭipadā ariyasacca): Bát chánh đạo, hợp đủ 8 chánh, là pháp hành dẫn đến chứng ngộ Niết Bàn, là chân lý mà bậc Thánh nhân đã chứng ngộ; hay gọi tắt là: Đạo thánh đế (Magga ariyasacca).

Tứ thánh đế là nền tảng căn bản trong giáo pháp của Chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai.

* Đức Thế Tôn có danh hiệu là "Sammāsambuddha": Chánh Đẳng Giác, là do chính Ngài đã chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Arahán đầu tiên, được tôn xưng bậc Chánh Đẳng Giác cao thượng, độc nhất vô nhị trong 10 ngàn thế giới chúng sinh.

* Đức thế tôn có danh hiệu "Buddha", Đức Phật, là do chính Ngài đã chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế đầu tiên, rồi Ngài đem ra giáo huấn cho chúng sinh có duyên lành cùng chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế như Ngài.

Sau khi trở thành bậc Chánh Đẳng Giác, Đức Phật đã ngự đến khu rừng phóng sanh nai gọi là Isipatana, để tế độ nhóm 5 Tỳ khưu: Đại Đức Koṇṇañña, Đại Đức Vappa, Đại Đức Bhaddiya, Đại Đức Mahānāma, Đại Đức Assaji. Đức Thế Tôn thuyết giảng bài kinh đầu tiên gọi là "Dhammacakkappavattanasutta": Kinh Chuyển Pháp Luân. Khi nhóm 5 Tỳ khưu lắng nghe xong bài kinh, trong đó Đại Đức Koṇṇañña trưởng nhóm đã chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Nhập Lưu Thánh Đạo, Nhập Lưu Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Nhập Lưu, vị Thánh Thanh văn đệ tử đầu tiên trong giáo pháp của Đức Phật Gotama, cùng với 180 triệu chư thiên và Phạm thiên cũng chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Đạo, Thánh Quả đồng thời trong lúc ấy.

Trong bài Kinh Chuyển Pháp Luân này, có một đoạn Đức Thế Tôn khẳng định truyền dạy toàn cõi thế giới rằng:

"Yato ca kho me bhikkhave imesu catūsu ariyasaccesu evaṃ tiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ suvisuddhaṃ ahosi".

"Athāhaṃ bhikkhave sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya devamanussāya "anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho" ti paccaññāsiṃ…". [39]

"Này Chư Tỳ khưu, khi nào trí tuệ thiền tuệ đã thấy rõ, biết rõ đúng thực tánh của Tứ thánh đế theo tam tuệ luân thành 12 loại trí tuệ trong sáng thanh tịnh, đã phát sanh đến với Như Lai".

"Này Chư Tỳ khưu, khi ấy Như Lai khẳng định truyền dạy rằng: "Như Lai đã chứng đắc thành bậc Chánh Đẳng Giác vô thượng trong toàn thế giới chúng sinh: nhân loại, Vua Chúa, Sa môn, Bà la môn, Chư thiên, Ma Vương và Phạm thiên cả thảy".

Như vậy, Đức Thế Tôn có danh hiệu "Sammāsambuddha" vì chính Ngài tự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế theo tam tuệ luân là:

– Trí tuệ học (saccañāṇa).

– Trí tuệ hành (kiccañāṇa).

– Trí tuệ thành (katañāṇa).

Ba loại trí tuệ trong Tứ thánh đế (3x4) thành 12 loại trí tuệ, mà Đức Phật đã tuần tự chứng đạt một cách hoàn toàn trong sáng thanh tịnh, để trở thành bậc Chánh Đẳng Giác (Sammāsambuddho).

Đối với hàng Phật tử là bậc xuất gia Sa di, Tỳ khưu, cũng như hàng tại gia cư sĩ là cận sự nam, cận sự nữ, cùng tất cả chư thiên, Phạm thiên có nguyện vọng trở thành bậc Thánh nhân, phải hành theo con đường duy nhất mà Đức Phật đã tiến hành. Đó là: pháp hành thiền tuệ để dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế theo tam tuệ luân, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, pháp giải thoát khổ tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Tìm hiểu rõ ý nghĩa Tứ thánh đế

Trong bộ Thanh Tịnh Đạo giảng giải 16 ý nghĩa của Tứ thánh đế [40]  như sau:

1- Khổ thánh đế: Đó là ngũ uẩn chấp thủ, hay danh pháp, sắc pháp trong tam giới là sự thật chân lý Khổ thánh đế, có 4 ý nghĩa thực trạng là:

1- Thực trạng khổ luôn luôn hành hạ.

2- Thực trạng khổ là do nhân duyên cấu tạo.

3- Thực trạng khổ làm nóng nảy.

4- Thực trạng khổ là do luôn luôn biến đổi.

2- Tập thánh đế: Đó là tâm tham ái, Nhân sanh Khổ thánh đế, có 4 ý nghĩa thực trạng là:

1- Thực trạng làm nhân sanh khổ,

2- Thực trạng làm cho phát sanh khổ đế.

3- Thực trạng ràng buộc trong khổ, không thoát ra khỏi khổ được.

4- Thực trạng dính mắc trong khổ đế.

3- Diệt thánh đế: Đó là Niết Bàn, pháp diệt Khổ thánh đế, có 4 ý nghĩa thực trạng là:

1- Thực trạng giải thoát mọi cảnh Khổ thánh đế.

2- Thực trạng không bị ràng buộc trong Khổ thánh đế.

3- Thực trạng không bị nhân duyên nào cấu tạo.

4- Thực trạng không còn sanh tử nữa.

4- Đạo thánh đế: Đó là Pháp hành Bát chánh đạo dẫn đến chứng ngộ Niết Bàn, có 4 ý nghĩa thực trạng là:

1- Thực trạng pháp hành dẫn đến sự giải thoát khổ tử sanh luân hồi.

2- Thực trạng pháp hành là nhân dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn.

3- Thực trạng pháp hành để chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế.

4- Thực trạng pháp hành dẫn đầu làm phận sự biết Khổ thánh đế, diệt Nhân sanh Khổ thánh đế, chứng ngộ Niết Bàn.

Tất cả 16 ý nghĩa thực trạng của Tứ thánh đế này đồng thành tựu cùng một lúc trong Thánh Đạo Tâm, không trước không sau.

Tam Tuệ Luân

Tam tuệ luân (Tiparivaṭṭa): là 3 bậc trí tuệ luân chuyển theo Tứ thánh đế như sau:

1- Saccañāṇa: Trí tuệ học Tứ thánh đế.

2- Kiccañāṇa: Trí tuệ hành phận sự Tứ thánh đế.

3- Katañāṇa: Trí tuệ thành hoàn thành phận sự Tứ thánh đế.

1- Trí Tuệ Học Tứ Thánh Đế

1.1- Trí tuệ học Khổ thánh đế

Trí tuệ học là hiểu biết rõ các chi pháp trong Khổ thánh đế.

Khổ thánh đế: Đó là ngũ uẩn chấp thủ, hay danh pháp, sắc pháp trong tam giới mà bậc Thánh nhân chứng ngộ bằng Thánh Đạo Tuệ.

* Ngũ uẩn chấp thủ là:

– Sắc uẩn chấp thủ: sắc uẩn là đối tượng của tham ái, tà kiến chấp thủ.

– Thọ uẩn chấp thủ: thọ uẩn là đối tượng của tham ái, tà kiến chấp thủ.

– Tưởng uẩn chấp thủ: tưởng uẩn là đối tượng của tham ái, tà kiến chấp thủ.

– Hành uẩn chấp thủ: hành uẩn là đối tượng của tham ái, tà kiến chấp thủ.

– Thức uẩn chấp thủ: thức uẩn là đối tượng của tham ái, tà kiến chấp thủ.

* Danh pháp, sắc pháp trong tam giới là:

- Danh pháp trong tam giới đó là tâm và tâm sở.

* Tam giới tâm: có 81 tâm (trừ 8 hay 40 siêu tam giới tâm, vì không phải Khổ thánh đế):

- Dục giới tâm có 54 tâm.

- Sắc giới tâm có 15 tâm.

- Vô sắc giới tâm có 12 tâm.

* Tâm sở: có 51 tâm sở (trừ tham tâm sở, vì tham tâm sở thuộc Tập thánh đế).

- Sắc pháp chỉ có trong dục giới và sắc giới, không có trong vô sắc giới, có tất cả 28 sắc pháp.

Như vậy, gồm có 81 tam giới tâm + 51 tâm sở + 28 sắc pháp là Khổ thánh đế, là pháp mà bậc Thánh nhân đã chứng ngộ bằng Thánh Đạo Tuệ.

1.2- Trí tuệ học Tập thánh đế

Trí tuệ học là hiểu biết rõ các chi pháp trong Tập thánh đế.

Tập thánh đế: Đó là tâm tham ái, nhân sanh Khổ thánh đế. Tham ái (taṇhā): có 3 loại, 36 loại, 108 loại:

* Tham ái theo tính chất có 3 loại:

1- Kāmataṇhā: Dục ái, tham ái trong 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) không có tà kiến.

2- Bhavataṇhā: Hữu ái, tham ái trong 6 trần hợp với thường kiến (sassatadiṭṭhi) thấy sai lầm rằng 6 trần nầy thường tồn, không có sanh diệt. Hoặc,

Tham ái trong 3 cõi: dục giới, sắc giới, vô sắc giới, trong thiền sắc giới, thiền vô sắc giới.

3- Vibhavataṇhā: Phi hữu ái, tham ái trong 6 trần hợp với đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi) thấy sai lầm rằng: 6 trần nầy là đối tượng có sanh mạng và không sanh mạng đều bị mất, không còn gì cả; hoặc chúng sanh chết, không còn tái sanh nữa. Tâm tham ái hoan hỉ với đoạn kiến như vậy.

* Tham ái theo 6 đối tượng có 6 loại:

Mỗi tham ái phát sanh do nương nhờ 6 đối tượng, nên có 6 loại tham ái:

1- Sắc ái, tham ái trong sắc trần.

2- Thanh ái, tham ái trong thanh trần.

3- Hương ái, tham ái trong hương trần.

4- Vị ái, tham ái trong vị trần.

5- Xúc ái, tham ái trong xúc trần.

6- Pháp ái, tham ái trong pháp trần.

* Tham ái theo 3 thời:

Mỗi tham ái phát sanh do nương nhờ 6 đối tượng hiện tại; 6 đối tượng quá khứ; 6 đối tượng vị lai (6 x 3).

Như vậy: – Dục ái có 18 loại tham ái.

- Hữu ái có 18 loại tham ái.

- Phi hữu ái có 18 loại tham ái.

* Tham ái theo 2 bên trong và ngoài:

Mỗi tham ái phát sanh do nương nhờ 6 đối tượng bên trong của mình, và 6 đối tượng bên ngoài: người khác và các vật khác (có sanh mạng và không sanh mạng).

Như vậy: – Dục ái có 18 x 2 = 36 loại.

- Hữu ái có 18 x 2 = 36 loại.

- Phi hữu ái có 18 x 2 = 36 loại.

Tóm lại: tham ái tổng cộng có 36 + 36 + 36 = 108 loại tham ái đều là nhân sanh khổ thánh đế, là pháp mà bậc thánh nhân đã chứng ngộ bằng Thánh Đạo Tuệ.

Tâm tham ái không những là nhân sanh khổ ở kiếp hiện tại, mà còn là nhân sanh khổ dẫn dắt tái sanh trong kiếp sau nữa. Hễ còn tâm tham ái, thì còn phải tái sanh kiếp sau, trong vòng tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài không cùng, không tận.

1.3- Trí tuệ học Diệt khổ thánh đế

Trí tuệ học là hiểu biết rõ các chi pháp trong Diệt khổ thánh đế.

Diệt khổ thánh đế: Đó là Niết Bàn, pháp diệt nhân sanh Khổ thánh đế, cũng là pháp diệt quả Khổ thánh đế.

Niết Bàn có 2 loại theo bậc Thánh Arahán.

1- Hữu Dư Niết Bàn (Sa upādisesanibbāna): Niết Bàn đối với bậc Thánh Arahán đã diệt đoạn tuyệt tất cả mọi tham ái, mọi phiền não không còn dư sót, còn gọi là Phiền Não Niết Bàn (Kilesaparinibbāna), nhưng ngũ uẩn vẫn còn tồn tại cho đến hết tuổi thọ.

2- Vô Dư Niết Bàn (Anupādisesanibbāna): Niết Bàn đối với bậc Thánh Arahán đã diệt đoạn tuyệt được tất cả mọi tham ái, mọi phiền não không còn dư sót. Đồng thời đến lúc hết tuổi thọ, ngũ uẩn tịch diệt Niết Bàn, còn gọi là Ngũ Uẩn Niết Bàn (Khandha-parinibbāna), chấm dứt sự tử sanh luân hồi trong tam giới.

Niết Bàn có 3 loại theo đối tượng.

1- Vô Tướng Niết Bàn (Amimittanibbāna): Niết Bàn đối với hành giả tiến hành thiền tuệ. Khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô thường hiện rõ hơn trạng thái khổ và trạng thái vô ngã, do tín pháp chủ có năng lực hơn 4 pháp chủ khác, dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn gọi là "Vô Hiện Tượng Niết Bàn": Niết Bàn không có hiện tượng pháp hành hữu vi.

2- Vô Ái Niết Bàn (Appaṇihitanibbāna): Niết Bàn đối với hành giả tiến hành thiền tuệ. Khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp co trạng thái khổ hiện rõ hơn trạng thái vô thường và trạng thái vô ngã, do định pháp chủ có năng lực hơn 4 pháp chủ khác, dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn gọi là "Vô Ái Niết Bàn": Niết Bàn không có tham ái nương nhờ.

3- Chơn Không Niết Bàn (Suññatanibbāna): Niết Bàn đối với hành giả tiến hành thiền tuệ. Khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô ngã hiện rõ hơn trạng thái vô thường và trạng thái khổ, do tuệ pháp chủ có năng lực hơn 4 pháp chủ khác, dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn gọi là "Chơn Không Niết Bàn": Niết Bàn hoàn toàn vô ngã, không phải Ta, không phải của Ta.

Vậy, các loại Niết Bàn, Diệt khổ thánh đế, là pháp mà Chư bậc Thánh đã chứng ngộ bằng Thánh Đạo Tuệ và Thánh Quả Tuệ.

1.4- Trí tuệ học Đạo thánh đế

Trí tuệ học là hiểu biết rõ các chi pháp trong Đạo thánh đế.

Đạo thánh đế: Đó là Bát chánh đạo hợp đủ 8 chánh, là pháp hành dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn.

Bát chánh đạo:

- Chánh kiến: Trí tuệ chân chính, là trí tuệ thiền tuệ chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế: Khổ thánh đế, Tập thánh đế, Diệt thánh đế và Đạo thánh đế.

- Chánh tư duy: Tư duy chân chính, là tư duy thoát ra khỏi ngũ trần, tư duy không làm khổ mình khổ người, tư duy không làm hại mình hại người.

- Chánh ngữ: Nói lời chân chính, là không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời thô tục chửi rủa mắng nhiếc, không nói lời vô ích.

- Chánh nghiệp: Hành nghiệp chân chính, là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.

- Chánh mạng: Nuôi mạng chân chính, là tránh xa cách sống tà mạng do thân và khẩu.

- Chánh tinh tấn: Tinh tấn chân chính là:

* Tinh tấn ngăn ác pháp không cho sanh.
* Tinh tấn diệt ác pháp đã sanh.
* Tinh tấn làm cho thiện pháp phát sanh.
* Tinh tấn làm tăng trưởng thiện pháp đã sanh.

- Chánh niệm: Niệm chân chính, là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, (ngoài ra không gọi là chánh niệm).

- Chánh định: Định chân chính, là định tâm trong các bậc siêu tam giới thiền tâm, có Niết Bàn làm đối tượng. (Ngoài ra, định tâm ở bậc thiền sắc giới, thiền vô sắc giới không gọi là chánh định).

Vậy, Bát chánh đạo hợp đủ 8 chánh, là pháp hành dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn, diệt Khổ thánh đế, là pháp mà chư bậc Thánh đã chứng ngộ bằng Thánh Đạo Tuệ và Thánh Quả Tuệ.

Trên đây là 4 trí tuệ học, là học các chi pháp của Tứ thánh đế, thuộc về phần pháp học (pariyattidhamma).

2- Trí Tuệ Hành Phận Sự Tứ Thánh Đế

Khi 4 trí tuệ học đã hiểu biết rõ tất cả chi pháp trong Tứ thánh đế xong rồi, luân chuyển đến 4 trí tuệ hành theo phận sự của mỗi Thánh Đế như sau:

2.1- Trí tuệ hành phận sự Khổ thánh đế.

Khổ thánh đế: Đó là ngũ uẩn chấp thủ, hay danh pháp, sắc pháp trong tam giới, là pháp mà trí tuệ hành có phận sự nên biết (pariññeyya); hay trí tuệ hành có phận sự nên biết danh pháp, sắc pháp là khổ đế. (Không phải có phận sự nên diệt, nên chứng ngộ, nên tiến hành).

2.2- Trí tuệ hành phận sự Tập thánh đế.

Tập thánh đế: Đó là tâm tham ái, nhân sanh Khổ thánh đế, là pháp mà trí tuệ hành có phận sự nên diệt (pahātabba); hay trí tuệ hành có phận sự nên diệt tâm tham ái. (Không phải có phận sự nên biết, nên chứng ngộ, nên tiến hành).

2.3- Trí tuệ hành phận sự Diệt khổ thánh đế.

Diệt khổ thánh đế: Đó là Niết Bàn, diệt nhân sanh Khổ thánh đế, là pháp mà trí tuệ hành có phận sự nên chứng ngộ (sacchikātabba); hay trí tuệ hành có phận sự nên chứng ngộ Niết Bàn. (Không phải có phận sự nên biết, nên diệt, nên tiến hành).

2.4- Trí tuệ hành phận sự Đạo thánh đế.

Đạo thánh đế: Đó là Bát chánh đạo, pháp hành dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn, pháp diệt nhân sanh Khổ thánh đế, là pháp mà trí tuệ hành có phận sự nên tiến hành (bhāvetabba); hay trí tuệ hành có phận sự nên tiến hành Bát chánh đạo. (Không phải có phận sự nên biết, nên diệt, nên chứng ngộ).

Trên đây là 4 trí tuệ hành phận sự của Tứ thánh đế, thuộc về phần pháp hành (paṭipattidhamma).

3- Trí Tuệ Thành Phận Sự Tứ Thánh Đế

Khi 4 trí tuệ hành đã làm tròn phận sự Tứ thánh đế xong rồi, luân chuyển đến 4 trí tuệ thành, hoàn thành xong phận sự của mỗi Thánh Đế như sau:

3.1- Trí tuệ thành phận sự Khổ thánh đế

Khổ thánh đế: Đó là ngũ uẩn chấp thủ, hay danh pháp, sắc pháp trong tam giới, là pháp mà trí tuệ thành đã biết xong (pariññata), đã hoàn thành xong phận sự biết Khổ thánh đế, hay trí tuệ thành đã biết xong danh pháp, sắc pháp là Khổ thánh đế.

3.2- Trí tuệ thành phận sự Tập thánh đế.

Tập thánh đế: Đó là tâm tham ái, nhân sanh Khổ thánh đế, là pháp mà trí tuệ thành đã diệt xong (pahīna), đã hoàn thành xong phận sự diệt Tập thánh đế, hay trí tuệ thành đã diệt xong tâm tham ái.

3.3- Trí tuệ thành phận sự Diệt khổ thánh đế.

Diệt khổ thánh đế: Đó là Niết Bàn, diệt Nhân sanh Khổ thánh đế, là pháp mà trí tuệ thành đã chứng ngộ xong (sacchikata), đã hoàn thành xong phận sự chứng ngộ Diệt thánh đế, hay trí tuệ thành đã chứng ngộ xong Niết Bàn.

3.4- Trí tuệ thành phận sự Đạo thánh đế.

Đạo thánh đế: Đó là Bát chánh đạo hợp đủ 8 chánh, pháp hành dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn, là pháp mà trí tuệ thành đã tiến hành xong (bhāvita); đã hoàn thành xong phận sự tiến hành Đạo thánh đế, hay trí tuệ thành đã tiến hành xong Bát chánh đạo.

Trên đây là 4 trí tuệ thành đã hoàn thành xong mọi phận sự Tứ thánh đế, thuộc về pháp thành (paṭivedhadhamma), là sự chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, gọi là 9 siêu tam giới pháp (navalokuttaradhamma).

Nhân Quả Liên Quan Tam Tuệ Luân

- Bốn trí tuệ thành, là đã hoàn thành xong 4 phận sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, đó là kết quả của 4 trí tuệ hành theo 4 phận sự của Tứ thánh đế.

- Bốn trí tuệ hành, là hành đúng theo 4 phận sự của Tứ thánh đế, đó là kết quả của 4 trí tuệ học.

- Bốn trí tuệ học, là học hiểu biết đúng theo các chi pháp của Tứ thánh đế, làm nhân duyên dẫn đến kết quả 4 trí tuệ hành.

- Bốn trí tuệ hành, là hành đúng theo 4 phận sự của Tứ thánh đế, làm nhân duyên dẫn đến kết quả 4 trí tuệ thành, là đã hoàn thành xong 4 phận sự của Tứ thánh đế. Đó là sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc từ Nhập Lưu Thánh Đạo, Nhập Lưu Thánh Quả đến Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán. Trí tuệ thấy rõ, biết rõ phạm hạnh đã hoàn thành xong, kiếp này là kiếp chót, không còn phải tái sanh kiếp nào khác nữa.

Như trong đoạn Kinh Chuyển Pháp Luân, Đức Thế Tôn khẳng định:

"Ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādi "Akuppā me vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo"ti…".

"Trí tuệ quán xét đã phát sanh đến Như Lai biết rõ rằng: "Arahán Thánh Quả Tuệ giải thoát của Như Lai không bao giờ bị hư hoại, kiếp này là kiếp chót, sau kiếp hiện tại này, không còn phải tái sanh kiếp nào nữa".

Tam Tuệ Luân Của Mỗi Thánh Đế

Trong mỗi Thánh Đế có đủ tam tuệ luân như sau:

1- Khổ thánh đế.

– Trí tuệ học, là trí tuệ hiểu biết rõ danh pháp, sắc pháp trong tam giới là Khổ thánh đế.

– Trí tuệ hành, là trí tuệ đang tiến hành thiền tuệ, để thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp là pháp có phận sự nên biết (pariññeyya).

– Trí tuệ thành, là trí tuệ đã tiến hành thiền tuệ, đã thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp là pháp có phận sự đã biết xong (pariññāta).

2- Tập thánh đế.

– Trí tuệ học, là trí tuệ hiểu biết rõ tâm tham ái là nhân sanh Khổ thánh đế.

– Trí tuệ hành, là trí tuệ đang tiến hành thiền tuệ, để thấy rõ, biết rõ tâm tham ái là pháp có phận sự nên diệt (pahātabba).

– Trí tuệ thành, là trí tuệ đã tiến hành thiền tuệ, đã thấy rõ, biết rõ tâm tham ái là pháp có phận sự đã diệt xong (pahīna).

3- Diệt thánh đế.

– Trí tuệ học, là trí tuệ hiểu biết rõ Niết Bàn là pháp diệt Khổ thánh đế.

– Trí tuệ hành, là trí tuệ đang tiến hành thiền tuệ, để thấy rõ, biết rõ Niết Bàn là pháp có phận sự nên chứng ngộ (sacchikātabba).

– Trí tuệ thành, là trí tuệ đã tiến hành thiền tuệ, đã thấy rõ, biết rõ Niết Bàn là pháp có phận sự đã chứng ngộ xong (sacchikata).

4- Đạo thánh đế.

– Trí tuệ học, là trí tuệ hiểu biết rõ Bát chánh đạo là pháp hành dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn là pháp diệt Khổ thánh đế.

– Trí tuệ hành, là trí tuệ đang tiến hành pháp hành Bát chánh đạo là pháp có phận sự nên tiến hành (bhāvetabba).

– Trí tuệ thành, là trí tuệ đã tiến hành pháp hành Bát chánh đạo, là pháp có phận sự đã tiến hành xong (bhāvita).

Trong mỗi Thánh Đế có tam tuệ luân chuyển. Vậy, trong Tứ thánh đế (4x3) gồm có 12 tuệ luân chuyển, có thể tượng trưng như một Bánh Xe Pháp Luân (dhammacakka) có 12 căm luân chuyển.



 

Tam tuệ luân của 4 bậc Thánh nhân

Mỗi bậc Thánh nhân đều trải qua tam tuệ luân trong Tứ thánh đế, mỗi tuệ luân có năng lực trí tuệ khác nhau đối với mỗi bậc Thánh nhân.

– Bậc Thánh Nhập Lưu trải qua tam tuệ luân trong Tứ thánh đế lần thứ nhất, Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ đã diệt đoạn tuyệt được: tham ái hợp với tà kiến trong 4 tham tâm hợp tà kiến (còn 4 tham tâm không hợp tà kiến chưa diệt được).

– Bậc Thánh Nhất Lai trải qua tam tuệ luân trong Tứ thánh đế lần thứ nhì, Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ đã diệt đoạn tuyệt được: tham ái ngũ trần loại thô trong 4 tham tâm không hợp tà kiến (còn ngũ trần loại vi tế chưa diệt được).

– Bậc Thánh Bất Lai trải qua tam tuệ luân trong Tứ thánh đế lần thứ ba, Bất Lai Thánh Đạo Tuệ đã diệt đoạn tuyệt được: tham ái ngũ trần loại vi tế, thuộc cõi dục giới, trong 4 tham tâm không hợp tà kiến.

– Bậc Thánh Arahán trải qua tam tuệ luân trong Tứ thánh đế lần thứ tư, Arahán Thánh Đạo Tuệ đã diệt đoạn tuyệt được: tham ái trong thiền sắc giới, thiền vô sắc giới, cõi trời sắc giới, cõi trời vô sắc giới phạm thiên, trong 4 tham tâm không hợp tà kiến.

Tính chất 4 phận sự của Tứ thánh đế

Bốn trí tuệ hành và bốn trí tuệ thành 4 phận sự của Tứ thánh đế có tánh cách liên quan đồng thời, không phận sự nào trước, không phận sự nào sau.

Trong Bộ Thanh Tịnh Đạo có ví dụ rằng:

"Khi đốt một cây đèn dầu (hay cây đèn cầy) trong đêm tối, có 4 sự việc xảy ra đồng thời, không trước, không sau là:

– Ánh sáng tỏa ra.
– Bóng tối bị tan biến.
– Tim đèn bị cháy mòn.
– Dầu bị hao dần.

Bốn sự việc xảy ra cùng một lúc, không việc nào trước, không việc nào sau.

Cũng giống như 4 phận sự của Tứ thánh đế có tánh cách đồng thời, không trước, không sau".

Trong Kinh Gavampati [41]  có đoạn dạy:

Đại Đức Gavampati thưa với Chư Tỳ khưu rằng:

- "Này chư Pháp hữu, tôi được nghe từ nơi Đức Thế Tôn dạy rằng:

* "Vị Tỳ khưu nào chứng ngộ Khổ thánh đế, vị Tỳ khưu ấy cũng chứng ngộ Tập thánh đế, Diệt thánh đế, Đạo thánh đế".

* "Vị Tỳ khưu nào chứng ngộ Tập thánh đế, vị Tỳ khưu ấy cũng chứng ngộ Khổ thánh đế, Diệt thánh đế, Đạo thánh đế".

* "Vị Tỳ khưu nào chứng ngộ Diệt thánh đế, vị Tỳ khưu ấy cũng chứng ngộ Khổ thánh đế, Tập thánh đế, Đạo thánh đế"

* "Vị Tỳ khưu nào chứng ngộ Đạo thánh đế, vị Tỳ khưu ấy cũng chứng ngộ Khổ thánh đế, Tập thánh đế, Diệt thánh đế…".

Như vậy, Tứ thánh đế có sự liên quan về phận sự với nhau đồng thời, không trước, không sau.

Phần Giải Thích:

* Bốn trí tuệ hành phận sự trong Tứ thánh đế.

Trong 4 trí tuệ hành phận sự này, trí tuệ hành phận sự của khổ đế là chính, còn 3 trí tuệ hành phận sự kia là phụ. Song 4 phận sự có tính cách đồng thời, không trước, không sau.

- Khi trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp nào, sắc pháp nào là khổ đế, thì,

- Đồng thời, tâm tham ái là nhân sanh khổ đế không sanh ở danh pháp ấy, sắc pháp ấy.

- Cũng đồng thời, chứng ngộ sự diệt của tâm tham ái, nhân sanh khổ đế ở danh pháp ấy, sắc pháp ấy.

- Trong khi đang tiến hành thiền tuệ với chánh niệm, chánh kiến, chánh tinh tấn, trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ khổ đế nên biết, tập đế nên diệt, diệt đế nên chứng ngộ, thì chính đạo đế đang nên tiến hành.

Như vậy, 4 trí tuệ hành phận sự của Tứ thánh đế đồng thời, không trước, không sau.

* Bốn trí tuệ thành phận sự trong Tứ thánh đế.

Bốn trí tuệ thành là đã hoàn thành xong 4 phận sự của Tứ thánh đế, là quả của 4 trí tuệ hành. Cũng có tính cách đồng thời, không trước, không sau, chỉ có Niết Bàn làm đối tượng.

- Khi trí tuệ thiền tuệ siêu tam giới đó là Thánh Đạo Tuệ, đã hoàn thành xong phận sự biết Khổ thánh đế, thì:

- Đồng thời Thánh Đạo Tuệ cũng đã hoàn thành xong phận sự diệt Tập thánh đế.

- Đồng thời Thánh Đạo Tuệ và Thánh Quả Tuệ đã chứng ngộ Diệt thánh đế.

- Đồng thời Bát chánh đạo hợp đủ 8 chánh: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, đồng sanh với Thánh Đạo Tâm, đã hoàn thành xong phận sự Đạo thánh đế là:

Khổ thánh đế nên biết, thì đã biết xong.
Tập thánh đế nên diệt, thì đã diệt xong.
Diệt thánh đế nên chứng ngộ, thì đã chứng ngộ xong.
Đạo thánh đế nên tiến hành, thì đã tiến hành xong.

Bốn trí tuệ thành phận sự này, đã hoàn thành xong 4 phận sự Tứ thánh đế, đồng thời, không trước, không sau, chỉ có Niết Bàn làm đối tượng.

Như vậy, trong 4 trí tuệ thành phận sự này, trí tuệ thành phận sự của Đạo thánh đế là trọng yếu nhất, vì đóng vai trò chính yếu trong sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn.

Vai trò 4 trí tuệ hành và 4 trí tuệ thành

- Trong 4 trí tuệ hành phận sự của Tứ thánh đế, giai đoạn đầu, trí tuệ hành phận sự Khổ thánh đế đóng vai trò chính yếu; là trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp là khổ đế, là pháp nên biết. Trí tuệ hành phận sự của mỗi Thánh đế còn lại, cũng thành tựu phận sự cùng một lúc, không trước không sau.

- Trong 4 trí tuệ thành phận sự của Tứ thánh đế, giai đoạn cuối, trí tuệ thành phận sự đã tiến hành Đạo thánh đế đóng vai trò chính yếu; là vì Thánh đạo hợp đủ 8 chánh, đồng sanh với Thánh Đạo Tâm, Thánh Quả Tâm, có Niết Bàn làm đối tượng, hoàn thành xong phận sự đã tiến hành xong Bát chánh đạo. Trí tuệ thành phận sự của mỗi thánh đế còn lại, cũng thành tựu phận sự cùng một lúc, không trước, không sau.

Tứ thánh đế trong giáo pháp của Đức Phật

Tứ thánh đế là chân lý của chư bậc Thánh, là nền tảng căn bản, là pháp cốt lõi, trọng yếu trong giáo pháp của Chư Phật.

1- Khổ thánh đế: Đó là ngũ uẩn chấp thủ, hay danh pháp, sắc pháp trong tam giới. Trong giáo pháp của Đức Phật, thì tất cả mọi danh pháp, sắc pháp cõi dục giới, cõi sắc giới và danh pháp cõi vô sắc giới, đúng theo chân lý đều là khổ đế (dukkhasacca).

Trong tam giới không có pháp nào gọi là "lạc đế", mà chỉ có "lạc hư ảo" (sukhavipallāsa), do quan niệm tâm hư ảo (cittavipallāsa), tà kiến hư ảo (diṭṭhivipallāsa), tưởng hư ảo (saññāvipallāsa).

Đúng theo chân lý thì chỉ có khổ đế mà thôi. Dầu có thọ lạc (sukhavedanā), nhưng thọ lạc cũng bị vô thường biến đổi, nên cũng chỉ là khổ đế.

Như Đại Đức Tỳ khưu ni Vajirā dạy rằng:

"Chỉ có khổ đế sanh, khổ đế trụ, khổ đế diệt.
Ngoài khổ đế ra, không có gì sanh, không có gì trụ, không có gì diệt…".[42]

Do đó, ngũ uẩn chấp thủ, hay danh pháp, sắc pháp trong tam giới đều là khổ đế.

2- Tập thánh đế: Đó là tâm tham ái, nhân sanh Khổ thánh đế.

Tâm tham ái là nhân sanh khổ ở kiếp hiện tại.

- Nếu tham tâm không được thỏa mãn, thì sanh sân tâm, không hài lòng, làm khổ tâm.

- Nếu tham tâm mà được, thì sanh tâm chấp thủ, cho là của ta, lại làm nhân phát sanh sân tâm sầu não, lo sợ cũng làm khổ tâm.

Như Đức Phật dạy trong Pháp Cú kệ rằng:

"Taṇhāya jāyatī soko, taṇhāya jāyatī bhayaṃ.
Taṇhāya vippamuttassa, natthi soko kuto bhayaṃ?". [43]

"Sự sầu não phát sanh do tham ái,
Sự lo sợ phát sanh do tham ái.
Bậc Thánh Arahán không tham ái,
Không sầu não, từ đâu có lo sợ?" (216).

Tâm tham ái là nhân dẫn dắt đi tái sanh khổ trong kiếp sau. Ngoại trừ bậc Thánh Arahán đã diệt đoạn tuyệt được tất cả mọi tham ái ra, còn lại tất cả mọi chúng sinh: nhân loại, chư thiên, Phạm thiên và gồm cả 3 bậc Thánh Hữu Học: bậc Thánh Nhập Lưu, bậc Thánh Nhất Lai, bậc Thánh Bất Lai, còn tham ái, nên còn phải tái sanh khổ trong kiếp sau.

Chúng sinh có ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành và thức uẩn) ở cõi dục giới và sắc giới, hay chúng sinh có tứ uẩn (thọ, tưởng, hành và thức uẩn) ở cõi vô sắc giới, hay chúng sinh chỉ nhất uẩn (sắc uẩn) ở cõi Vô Tưởng Thiên, cũng đều phải chịu khổ đế. Chỉ khác nhau là khổ nhiều, khổ ít mà thôi.

Do đó tâm tham ái là nhân sanh khổ đế.

3- Diệt thánh đế: Đó là Niết Bàn là pháp diệt đoạn tuyệt được tham ái, nhân sanh Khổ thánh đế, cũng là pháp diệt quả Khổ thánh đế.

– Niết Bàn pháp diệt đoạn tuyệt tâm tham ái.

Hành giả tiến hành thiền tuệ, đến khi chứng ngộ Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo Tuệ, có Niết Bàn làm đối tượng; Thánh Đạo Tuệ nào có khả năng diệt đoạn tuyệt được tâm tham ái nào, thì tâm tham ái ấy vĩnh viễn không bao giờ phát sanh trở lại nữa, gọi là "Phiền Não Niết Bàn" (Kilesaparinibbāna). Loại phiền não nào đã bị diệt đoạn tuyệt do Thánh Đạo Tuệ rồi, loại phiền não ấy vĩnh viễn không còn sanh trở lại.

Trường hợp Đức Phật Gotama chứng ngộ "Phiền Não Niết Bàn" tại đại cội Bồ Đề.

- Niết Bàn pháp tịch diệt ngũ uẩn.

Bậc Thánh Arahán đã diệt đoạn tuyệt tất cả mọi tham ái, mọi phiền não không còn dư sót, đến khi hết tuổi thọ, tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt mọi cảnh khổ tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài, gọi là "Ngũ Uẩn Niết Bàn" (Khandhaparinibbāna). Ngũ uẩn của bậc Thánh Arahán khi tịch diệt Niết Bàn rồi, không còn tái sanh kiếp sau nữa, như ngọn đèn tắt.

Trường hợp Đức Phật Gotama tịch diệt, "Ngũ Uẩn Niết Bàn" tại khu rừng Kusinārā.

Do đó, Niết Bàn là pháp diệt Khổ thánh đế.

4- Đạo thánh đế: Đó là Bát chánh đạo, là pháp hành dẫn đến chứng ngộ Niết Bàn.

Hành giả tiến hành thiền tuệ, đến khi chứng ngộ Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, có Niết Bàn làm đối tượng. Khi ấy, Thánh đạo hợp đủ 8 chánh: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, đồng sanh với Thánh Đạo Tâm đã hoàn thành xong 4 phận sự:

– Khổ thánh đế là pháp nên biết, thì Thánh Đạo Tuệ đã biết xong.

– Tập thánh đế là pháp nên diệt, thì Thánh Đạo Tuệ đã diệt xong.

– Diệt thánh đế là pháp nên chứng ngộ, thì Thánh Đạo Tuệ đã chứng ngộ xong.

– Đạo thánh đế là pháp nên tiến hành, thì Bát chánh đạo hợp đủ 8 chánh đã tiến hành xong.

Do đó, Bát chánh đạo là pháp hành dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn.

Tứ thánh đế là nền tảng, là cốt lõi chính yếu trong giáo pháp của Chư Phật. Vì vậy, hành giả tiến hành thiền tuệ, dầu có những đối tượng thiền tuệ khác nhau như "thân, thọ, tâm, pháp, ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới, danh pháp, sắc pháp,…", đến giai đoạn cuối cùng đều đạt đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn như nhau.

Nhân quả liên quan của Tứ thánh đế

Chân lý Tứ thánh đế có nhân quả liên quan với nhau như sau:

1- Khổ thánh đế: Ngũ uẩn chấp thủ, hay danh pháp, sắc pháp trong tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới), là quả của Tập thánh đế.

2- Tập thánh đế: Tâm tham ái, nhân sanh Khổ thánh đế, nhân dẫn dắt tái sanh kiếp sau (taṇhā ponobbhavikā).

3- Diệt thánh đế: Niết Bàn, không thuộc quả phát sanh do một nhân nào. Vì Niết Bàn là Vô Vi Pháp (asaṅkhatadhamma), là pháp hoàn toàn không do một nhân duyên nào cấu tạo.

4- Đạo thánh đế: Bát chánh đạo, là pháp hành dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn.

Như vậy, Bát chánh đạo là nhân đạt đến Niết Bàn, Diệt thánh đế, không phải là nhân sanh Niết Bàn, Diệt thánh đế. Và Niết Bàn, Diệt thánh đế cũng không phải là quả của Đạo thánh đế, mà chỉ là đối tượng siêu tam giới của Đạo thánh đế.

Ví dụ :

Con đường dẫn đến kinh đô.

– Con đường ví như Bát chánh đạo, là Đạo thánh đế.

– Kinh đô ví như Niết Bàn, là Diệt thánh đế.

Con đường dẫn đến kinh đô, chứ không phải là nhân sanh kinh đô.

Cũng như vậy, Đạo thánh đế không phải nhân sanh Diệt thánh đế, mà chỉ là nhân đạt đến Diệt thánh đế.

Logged

Karma Yoga, con đường của Hành Động không có tự ngã.
TrieuTuLong
Full Member
***

Bài viết: 485



Xem hồ sơ cá nhân
Người gởi: TrieuTuLong
Trả lời #4 vào lúc: 30-08-2019, 05:44 PM

II- PHÁP HÀNH THIỀN TUỆ (tiếp theo)

6- BỐN THÁNH ĐẠO
7- BỐN THÁNH QUẢ

Hành giả tiến hành thiền tuệ, đến giai đoạn đã chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo (Ariyamagga), 4 Thánh Quả (Ariyaphala).

4 Thánh Đạo (Ariyamagga):

1- Nhập Lưu Thánh Đạo (Sotāpattimagga).

2- Nhất Lai Thánh Đạo (Sakadāgāmimagga).

3- Bất Lai Thánh Đạo (Anāgāmimagga).

4- Arahán Thánh Đạo (Arahattamagga).

Đó là 4 Thánh Đạo Tâm thuộc về siêu tam giới thiện tâm, cho quả tương xứng là 4 Thánh Quả Tâm không có thời gian ngăn cách (akālika), chỉ sau một sát na tâm mà thôi. Nghĩa là, sau khi Thánh Đạo Tâm diệt, liền tiếp theo Thánh Quả Tâm sanh.

4 Thánh Quả (Ariyaphala):

1- Nhập Lưu Thánh Quả (Sotāpattiphala).

2- Nhất Lai Thánh Quả (Sakadāgāmiphala).

3- Bất Lai Thánh Quả (Anāgāmiphala).

4- Arahán Thánh Quả (Arahattaphala).

Đó là 4 Thánh Quả Tâm, là quả tương xứng của 4 Thánh Đạo Tâm, cũng thuộc về siêu tam giới quả tâm.

4 Thánh ĐạoTâm và 4 Thánh Quả Tâm đều thuộc về siêu tam giới tâm, chỉ có Niết Bàn làm đối tượng mà thôi. Mỗi Thánh Đạo Tâm chỉ sanh một sát na tâm duy nhất đối với bậc Thánh nhân. Song, mỗi Thánh Quả Tâm có thể sanh 2-3 sát na tâm trong "Thánh Đạo lộ trình tâm" (Maggavīthicitta). Và mỗi Thánh Quả Tâm có thể sanh liên tục vô số sát na tâm, suốt một thời gian do năng lực phát nguyện, trong "Thánh Quả định lộ trình tâm" (Phalasamāpattivīthicitta).

4 Thánh Đạo Tâm cho quả tương xứng với 4 Thánh Quả Tâm không có thì giờ ngăn cách (akālika). Khi chứng đắc Thánh Đạo, liền chứng đắc Thánh Quả. Nghĩa là, sau khi Thánh Đạo Tâm diệt, liền tiếp theo Thánh Quả Tâm sanh tương xứng với nhau như sau:

4 Thánh Đạo Þ 4 Thánh Quả

1- Nhập Lưu Thánh Đạo Nhập Lưu Thánh Quả.

2- Nhất Lai Thánh Đạo Nhất Lai Thánh Quả.

3- Bất Lai Thánh Đạo Bất Lai Thánh Quả.

4- Arahán Thánh Đạo Arahán Thánh Quả.

8- NIẾT BÀN (NIBBĀNA)

Đức Phật thuyết giảng về đức tánh siêu việt của Niết Bàn trong kinh Aggappasādasutta [44] có đoạn:

…"Yadidaṃ madanimmadano pipāsavinayo alāyasamug-ghāto vaṭṭupacchedo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ…".

…"Niết Bàn, diệt khổ, thoát ly tình dục, diệt tham ái, chặt đứt vòng tử sanh luân hồi, nhổ tận gốc rễ luyến ái, dập tắt tâm khao khát, hủy diệt mọi sự say mê…".

Cho nên Niết Bàn chỉ là đối tượng chắc chắn của 8 hay 40 siêu tam giới tâm. Đó là 4 hay 20 Thánh Đạo Tâm, và 4 hay 20 Thánh Quả Tâm. Ngoài ra, dục giới tâm, sắc giới tâm và vô sắc giới tâm không thể tiếp nhận Niết Bàn làm đối tượng.

40 siêu tam giới thiền tâm, nghĩa là 8 siêu tam giới tâm: 4 Thánh Đạo Tâm và 4 Thánh Quả Tâm, đồng sanh với 5 bậc thiền, từ đệ nhất thiền cho đến đệ ngũ thiền, có Niết Bàn làm đối tượng, như sau:

- Nhập Lưu Thánh Đạo Tâm đồng sanh với 5 bậc thiền siêu tam giới tâm.

- Nhất Lai Thánh Đạo Tâm đồng sanh với 5 bậc thiền siêu tam giới tâm.

- Bất Lai Thánh Đạo Tâm đồng sanh với 5 bậc thiền siêu tam giới tâm.

- Arahán Thánh Đạo Tâm đồng sanh với 5 bậc thiền siêu tam giới tâm.

- Nhập Lưu Thánh Quả Tâm đồng sanh với 5 bậc thiền siêu tam giới tâm.

- Nhất Lai Thánh Quả Tâm đồng sanh với 5 bậc thiền siêu tam giới tâm.

- Bất Lai Thánh Quả Tâm đồng sanh với 5 bậc thiền siêu tam giới tâm.

- Arahán Thánh Quả Tâm đồng sanh với 5 bậc thiền siêu tam giới tâm.

Như vậy, siêu tam giới thiền tâm gồm có 40 tâm.

9- DIỆT ĐOẠN TUYỆT PHIỀN NÃO

Diệt đoạn tuyệt phiền não (samucchedapahāna): Đó là khả năng đặc biệt của 4 Thánh Đạo Tuệ, đồng sanh với 4 Thánh Đạo Tâm có Niết Bàn làm đối tượng.

Loại tham ái, phiền não, ác pháp nào đã bị diệt đoạn tuyệt do bởi bậc Thánh Đạo Tuệ nào rồi, thì loại tham ái, phiền não, ác pháp ấy, vĩnh viễn không bao giờ phát sanh trong tâm của bậc Thánh nhân ấy nữa, nên gọi là Kilesaparinibbāna: Phiền Não Niết Bàn. Nghĩa là, phiền não đã bị diệt đoạn tuyệt rồi không còn phát sanh bất cứ lúc nào và bất cứ kiếp nào, nếu còn tái sanh.

Mỗi bậc Thánh Đạo Tuệ, có khả năng đặc biệt diệt đoạn tuyệt được tham ái, phiền não, ác pháp tùy theo năng lực Thánh Đạo Tuệ của mỗi bậc Thánh từ thấp đến cao như sau:

1- Ba tham ái (taṇhā)

Tham ái có chi pháp là tham tâm sở, đồng sanh với 8 tham tâm, là nhân sanh khổ đế trong ba giới bốn loài.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 loại tham ái là:

- Vibhavataṇhā: Tham ái hợp với đoạn kiến.

- Bhavataṇhā: Tham ái hợp với thường kiến. Đó là tà kiến tâm sở, đồng sanh với 4 tham tâm hợp tà kiến.

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 1 loại tham ái là:

- Kāmataṇhā: Tham ái trong lục trần loại thô, trong cõi dục giới. Đó là tham tâm sở, đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 1 loại tham ái là:

- Kāmataṇhā: Tham ái trong lục trần loại vi tế, trong cõi dục giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 1 loại tham ái là:

- Bhavataṇhā: Tham ái trong thiền sắc giới và thiền vô sắc giới, cõi sắc giới và cõi vô sắc giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

Tham ái hoàn toàn bị diệt đoạn tuyệt không còn dư sót, nghĩa là diệt đoạn tuyệt được nhân sanh Khổ thánh đế.

2- Bốn pháp trầm luân (āsava)

Pháp trầm luân có chi pháp là tà kiến, tham, si làm cho chúng sinh say mê, lầm lạc trong vòng tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài, vô thủy vô chung.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được tà kiến trầm luân (diṭṭhāsava). Đó là tà kiến tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm hợp tà kiến.

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được ngũ dục trầm luân (kāmāsava), loại thô trong cõi dục giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được ngũ dục trầm luân, loại vi tế trong cõi dục giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 pháp:

– Kiếp trầm luân (bhavāsava), trong cõi sắc giới, cõi vô sắc giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

– Vô minh trầm luân (avijjāsava). Đó là si tâm sở đồng sanh với bất thiện tâm.

3- Bốn pháp nước xoáy (ogha)

Pháp nước xoáy có chi pháp là tà kiến, tham, si như dòng nước xoáy, làm cho chúng sinh chìm đắm trong biển khổ tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài, không thể ngoi đầu lên được, vô thủy vô chung.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được tà kiến như nước xoáy (diṭṭhogha). Đó là tà kiến tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm hợp tà kiến.

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được ngũ dục như nước xoáy (kāmogha), loại thô trong cõi dục giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được ngũ dục như nước xoáy, loại vi tế trong cõi dục giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 pháp:

– Kiếp như nước xoáy (bhavogha), trong cõi sắc giới, cõi vô sắc giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

– Vô minh như nước xoáy (avijjogha). Đó là si tâm sở đồng sanh với bất thiện tâm.

4- Bốn pháp dính chặt (yogo)

Pháp dính chặt có chi pháp là tà kiến, tham, si ví như keo dính chặt chúng sinh, không thể giải thoát ra khỏi vòng tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài, vô thủy vô chung.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được tà kiến dính chặt (diṭṭhiyoga). Đó là tà kiến tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm hợp tà kiến.

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được ngũ dục dính chặt (kāmayoga), loại thô trong cõi dục giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được ngũ dục dính chặt, loại vi tế trong cõi dục giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 pháp:

– Kiếp dính chặt (bhavayoga), trong cõi sắc giới, cõi vô sắc giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

– Vô minh dính chặt (avijjāyoga). Đó là si tâm sở đồng sanh với bất thiện tâm.

5- Bốn pháp chấp thủ (upādāna)

Pháp chấp thủ có chi pháp là tà kiến, tham làm cho chúng sinh chấp thủ chắc chắn nơi đối tượng, không chịu buông thả, ví như con rắn ngậm con nhái.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 3 pháp là:

– Tà kiến chấp thủ (diṭṭhupādāna): chấp thủ điều thấy sai hiểu lầm.

– Pháp thường hành chấp thủ (sīlabbattupādāna): chấp thủ nơi pháp thường hành sai của mình cho là đúng.

– Ngã kiến chấp thủ (attavādupādāna): chấp thủ ngũ uẩn cho là ta.

Ba pháp này, đều có chung chi pháp là tà kiến tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm hợp tà kiến.

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được tham dục chấp thủ (kāmupādāna), loại thô trong cõi dục giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được tham dục chấp thủ loại vi tế trong cõi dục giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được tham dục chấp thủ trong cõi sắc giới và cõi vô sắc giới. Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

6- Bốn pháp thiên vị (agati)

Pháp thiên vị có chi pháp là tham, sân, si, khiến cho chúng sinh làm những điều không nên làm.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được hoàn toàn 4 pháp thiên vị là: thiên vị vì thương (chandāgati), thiên vị vì ghét (dosāgati), thiên vị vì si (mohāgati), thiên vị vì sợ (bhayāgati) không còn dư sót.

Còn bậc Thánh Nhất Lai, bậc Thánh Bất Lai, bậc Thánh Arahán hoàn toàn không có 4 pháp thiên vị.

7- Sáu pháp chướng ngại (nīvaraṇa)

Pháp chướng ngại có chi pháp là tham, sân, si, buồn chán-buồn ngủ, phóng tâm-hối hận, hoài nghi, là những pháp làm chướng ngại mọi thiện pháp như thiền định, v.v…

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được hoài nghi (vicikicchā). Đó là hoài nghi tâm sở đồng sanh với si tâm hợp hoài nghi.

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 3 pháp loại thô trong cõi dục giới là:

– Tham dục (kāmacchanda): Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

– Sân hận (byāpāda): Đó là sân tâm sở đồng sanh với 2 sân tâm.

– Hối hận (kukkucca): Đó là hối hận tâm sở đồng sanh với 2 sân tâm.

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 3 pháp loại vi tế trong cõi dục giới là:

– Tham dục: Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

– Sân hận: Đó là sân tâm sở đồng sanh với 2 sân tâm.

– Hối hận: Đó là hối hận tâm sở đồng sanh với 2 sân tâm.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 3 pháp là:

– Buồn chán-buồn ngủ (thīnamiddha): Đó là buồn chán-buồn ngủ tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm, và 1 sân tâm cần động viên.

– Phóng tâm (uddhacca): Đó là phóng tâm tâm sở đồng sanh với si tâm hợp phóng tâm.

– Vô minh (avijjā): Đó là si tâm sở đồng sanh với bất thiện tâm.

8- Bảy pháp ngủ ngầm (anusaya)

Pháp ngủ ngầm có chi pháp là tham, sân, si, tà kiến, ngã mạn, hoài nghi, là những phiền não vô cùng vi tế, ẩn tàng trong tâm, nên năng lực của giới và định không thể diệt đoạn tuyệt được. Chỉ có trí tuệ thiền tuệ siêu tam giới mới có thể diệt đoạn tuyệt được loại phiền não ngủ ngầm trong tâm này.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 pháp là:

– Tà kiến ngủ ngầm (diṭṭhānusaya): Đó là tà kiến tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm hợp tà kiến.

– Hoài nghi ngủ ngầm (vicikicchānusaya): Đó là hoài nghi tâm sở đồng sanh với si tâm hợp hoài nghi.

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 pháp loại thô trong cõi dục giới là:

– Ái dục ngủ ngầm (kāmarāgānusaya): Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tâm tham không hợp tà kiến.

– Hận thù ngủ ngầm (paṭighānusaya): Đó là sân tâm sở đồng sanh với 2 sân tâm, loại thô trong cõi dục giới.

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 pháp loại vi tế trong cõi dục giới là:

– Ái dục ngủ ngầm: Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

– Hận thù ngủ ngầm: Đó là sân tâm sở đồng sanh với 2 sân tâm.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 3 pháp là:

– Ngã mạn ngủ ngầm (mānānusaya): Đó là ngã mạn tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

– Ái kiếp ngủ ngầm (bhavārāgānusaya): Đó là tham tâm sở đồng sanh với 4 tham tâm không hợp tà kiến.

– Vô minh ngủ ngầm (avijjānusaya): Đó là si tâm sở đồng sanh với bất thiện tâm.

9- Tám pháp thế gian (lokadhamma)

Pháp thế gian: Đó là được lợi, mất lợi, được danh, mất danh, lạc, khổ, khen, chê là pháp thường có trong đời, mà chúng sinh thường bị lệ thuộc.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ chưa có khả năng diệt đoạn tuyệt được pháp thế gian nào cả.

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 4 pháp loại thô: mất lợi (alābha), mất danh (ayasa), khổ (dukkha), chê (mindā).

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 4 pháp loại vi tế: mất lợi, mất danh, khổ, chê.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 4 pháp: được lợi (lābha), được danh (yasa), lạc (sukha), khen (pasaṃsā).

10- Mười phiền não (kilesa)

Phiền não có chi pháp là tham, sân, si, tà kiến, ngã mạn, hoài nghi, buồn ngủ, phóng tâm, không biết hổ thẹn tội lỗi, không biết ghê sợ tội lỗi là những phiền não làm cho tâm ô nhiễm, thân và tâm nóng nảy khiến tạo nghiệp cho quả tử sanh luân hồi.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 pháp phiền não là: tà kiến (diṭṭhi), và hoài nghi (vicikicchā).

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 1 pháp phiền não là: sân (dosa) loại thô.

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 1 pháp phiền não là: sân loại vi tế.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 7 pháp phiền não là: tham (lobha), si (moha), ngã mạn (māna), buồn ngủ (thīna), phóng tâm (uddhacca), không biết hổ thẹn tội lỗi (ahirika) và không biết ghê sợ tội lỗi (anottappa).

11- Mười pháp ràng buộc (sanyojana)

Pháp ràng buộc có chi pháp là tham, sân, si, tà kiến, ngã mạn, hoài nghi, phóng tâm, ví như những sợi dây cột chặt chúng sinh, không cho thoát khỏi khổ tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 3 pháp là: ngũ uẩn tà kiến (sakkāyadiṭṭhi), hoài nghi (vicikicchā) và pháp thường hành tà kiến chấp thủ (sīlabbataparāmāsa).

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 pháp loại thô trong cõi dục giới là: dục ái (kāmarāga), và sân hận (paṭigha).

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 pháp loại vi tế trong cõi dục giới là: dục ái và sân hận.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 5 pháp là: ái sắc giới (rūparāga), ái vô sắc giới (arūparāga), ngã mạn (māna), phóng tâm (uddhacca) và vô minh (avijjā).

12- Mười bất thiện nghiệp (akusalakamma)

Bất thiện nghiệp có chi pháp là tác ý bất thiện tâm sở (cetanā) đồng sanh trong tham tâm, sân tâm, si tâm tạo nên 10 bất thiện nghiệp: 3 thân bất thiện nghiệp, 4 khẩu bất thiện nghiệp, 3 ý bất thiện nghiệp, cho quả khổ trong kiếp hiện tại và kiếp vị lai.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 5 bất thiện nghiệp là: sát sanh (pānātipāta), trộm cắp (adinnādāna), tà dâm (kāmesu micchācāra), nói dối (musāvāda) và tà kiến (micchādiṭṭhi).

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 3 bất thiện nghiệp loại thô là: nói lời chia rẽ (pisuṇavācā), nói lời thô tục (pharusavācā) và thù hận (byāpāda).

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 3 bất thiện nghiệp loại vi tế là: nói lời chia rẽ, nói lời thô tục và thù hận.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 bất thiện nghiệp là: nói lời vô ích (samphappalāpa) và tham lam (abhijjhā).

13- Mười hai bất thiện tâm (akusalacitta)

Bất thiện tâm: Đó là 8 tham tâm + 2 sân tâm + 2 si tâm, là những bất thiện tâm do hợp với bất thiện tâm sở, làm cho tâm bị ô nhiễm, cho quả khổ trong kiếp hiện tại và kiếp vị lai.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 5 bất thiện tâm là: 4 tham tâm hợp tà kiến (diṭṭhigatasampayuttacitta) và 1 si tâm hợp hoài nghi (vicikicchāsampayuttacitta).

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 tâm sân (dosacitta) loại thô.

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 tâm sân loại vi tế.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 5 bất thiện tâm là: 4 tham tâm không hợp tà kiến (diṭṭhigatavippayutta-citta) và 1 si tâm hợp phóng tâm (uddhaccasampayuttacitta).

14- Mười bốn bất thiện tâm sở (akusalacetasika)

Bất thiện tâm sở: Đó là 3 tâm sở nhóm tham, 4 tâm sở nhóm sân, 4 tâm sở nhóm si, 2 tâm sở buồn chán-buồn ngủ và 1 hoài nghi tâm sở, là những bất thiện tâm sở đồng sanh tùy theo 12 bất thiện tâm.

1- Bậc Nhập Lưu Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 4 bất thiện tâm sở là: tà kiến tâm sở (diṭṭhi), hoài nghi tâm sở (vicikicchā), ganh tị tâm sở (issā) và keo kiệt tâm sở (macchariya).

2- Bậc Nhất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 bất thiện tâm sở loại thô là: sân tâm sở (dosa), hối hận tâm sở (kukkucca).

3- Bậc Bất Lai Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 2 bất thiện tâm sở loại vi tế là: sân tâm sở, hối hận tâm sở.

4- Bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ diệt đoạn tuyệt được 8 bất thiện tâm sở là: tham tâm sở (lobha), ngã mạn tâm sở (māna), si tâm sở (moha), phóng tâm tâm sở (uddhacca), buồn chán tâm sở (thīna), buồn ngủ tâm sở (middha) không biết hổ thẹn tội lỗi tâm sở (ahirika) và không biết ghê sợ tội lỗi tâm sở (anottappa).

Trên đây trình bày mỗi bậc Thánh Đạo Tuệ có khả năng diệt đoạn tuyệt được tham ái, phiền não, ác pháp để làm tiêu biểu. Còn lại một số bất thiện pháp khác liên quan với chi pháp cũng đều bị diệt đoạn tuyệt cùng một lúc. Điều chắc chắn là khi chứng đắc đến bậc Arahán Thánh Đạo Tuệ thì tất cả mọi tham ái, phiền não, ác pháp đều bị diệt đoạn tuyệt hoàn toàn không còn dư sót.

10- Quả Báu Của Pháp Hành Thiền Tuệ

Hành giả tiến hành thiền tuệ đúng theo Pháp hành trung đạo, có thể đưa đến kết quả chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh nhân.

Bậc Thánh nhân trong Phật giáo từ thấp đến cao có 4 bậc là:

1- Bậc Thánh Nhập Lưu (Sotāpanna).

2- Bậc Thánh Nhất Lai (Sakadāgāmī).

3- Bậc Thánh Bất Lai (Anāgāmī).

4- Bậc Thánh Arahán (Arahanta).

1- Quả báu của bậc Thánh Nhập Lưu

Bậc Thánh thứ nhất: bậc Thánh Nhập Lưu là bậc Thánh đã diệt đoạn tuyệt được tham tâm hợp tà kiến và si tâm hợp hoài nghi. Kể từ kiếp hiện tại cho đến kiếp vị lai, 4 tham tâm hợp tà kiến và si tâm hợp hoài nghi, vĩnh viễn không còn có trong tâm của bậc Thánh Nhập Lưu nữa. Nên bậc Thánh Nhập Lưu hoàn toàn giải thoát khổ tà kiến và hoài nghi trong kiếp hiện tại và kiếp vị lai. Hoàn toàn giải thoát cảnh khổ tái sanh trong 4 đường ác: địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sanh.

* Bậc Thánh Nhập Lưu có 3 hạng là:

1- Sattakkhattuparamasotāpanna: bậc Thánh Nhập Lưu có 5 pháp chủ [45]  năng lực yếu, còn phải tái sanh làm người và làm chư thiên cõi trời dục giới nhiều nhất 7 kiếp nữa. Đến kiếp thứ 7, thì chắc chắn sẽ chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt sự tử sanh luân hồi trong tam giới.

2- Kolaṃkolasotāpanna: bậc Thánh Nhập Lưu có 5 pháp chủ năng lực trung bình nên còn phải tái sanh làm người và làm chư thiên từ 2-3-5 kiếp nữa, mới có thể chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt sự tử sanh luân hồi trong tam giới.

3- Ekabījīsotāpanna: bậc Thánh Nhập Lưu có 5 pháp chủ năng lực mạnh nên chỉ còn tái sanh làm người hay làm Chư thiên 1 kiếp nữa. Ngay trong kiếp ấy, sẽ chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt sự tử sanh luân hồi trong tam giới.

Bậc Thánh Nhập Lưu tái sanh hơn 7 kiếp [46]

Trường hợp ngoại lệ, có 7 vị Thánh Nhập Lưu tái sanh hơn 7 kiếp như sau:

1- Phú hộ Anāthapiṇṇika.
2- Bà Visākhā mahā upāsikā.
3- Chư thiên Cullaratha.
4- Chư thiên Mahāratha.
5- Chư thiên Anekavaṇṇa.
6- Chư thiên Nāgadatta.
7- Đức vua trời Sakka.

Bảy Vị thánh Nhập Lưu này có phát nguyện, muốn hưởng sự an lạc trong các cõi trời từ dục giới đến các cõi trời sắc giới phạm thiên tột đỉnh: Sắc cứu cánh thiên (Akaniṭṭha), mới chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán, rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt sự khổ tử sanh luân hồi ngay trong cõi sắc giới phạm thiên tột đỉnh ấy.

2- Quả báu của bậc Thánh Nhất Lai

Bậc Thánh thứ nhì: bậc Thánh Nhất Lai là bậc Thánh đã diệt đoạn tuyệt được tham tâm không hợp tà kiến và sân tâm, loại thô cõi dục giới, nên chỉ còn tái sanh làm người hay làm chư thiên 1 kiếp nữa. Ngay trong kiếp ấy sẽ chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt sự tử sanh luân hồi trong tam giới.

3- Quả báu của bậc Thánh Bất Lai

Bậc Thánh thứ ba: bậc Thánh Bất Lai là bậc Thánh đã diệt đoạn tuyệt được tham tâm không hợp tà kiến và sân tâm, loại vi tế cõi dục giới, nên không còn tái sanh trở lại cõi dục giới, chỉ tái sanh lên cõi sắc giới. Nếu chứng đắc đệ tứ thiền sắc giới, sẽ tái sanh lên tầng trời Tịnh cư thiên.

* Bậc Thánh Bất Lai có 5 hạng là:

1- Antarāparinibbāyī: bậc Thánh Bất Lai sẽ chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán, chưa đến một nửa tuổi thọ của cõi sắc giới phạm thiên ấy, rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

2- Upahaccaparinibbāyī: bậc Thánh Bất Lai sẽ chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán, quá một nửa tuổi thọ của cõi sắc giới phạm thiên ấy, rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

3- Asaṅkhāraparinibbāyī: bậc Thánh Bất Lai không cần phải tinh tấn nhiều, cũng sẽ chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, tại cõi sắc giới phạm thiên ấy, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

4- Saṅkhāraparinibbāyī: bậc Thánh Bất Lai cần phải tinh tấn nhiều, sẽ chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, tại cõi sắc giới phạm thiên ấy, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

5- Uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī: bậc Thánh Bất Lai khi hết tuổi thọ trong cõi trời Sắc giới tầng thấp, tuần tự tái sanh từng trời bậc cao, cho đến tầng trời sắc giới Akaniṭṭha tột đỉnh, sẽ chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán, rồi tịch diệt Niết Bàn, tại cõi trời sắc giới Akaniṭṭha ấy, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

4- Quả báu của bậc Thánh Arahán

Bậc Thánh thứ tư: bậc Thánh Arahán là bậc Thánh đã diệt đoạn tuyệt được hoàn toàn tất cả mọi tham ái, mọi phiền não, mọi ác pháp không còn dư sót. Nên bậc Thánh Arahán không còn tái sanh trở lại kiếp nào khác nữa. Ngay kiếp hiện tại này, đến khi hết tuổi thọ, sẽ tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

* Bậc Thánh Arahán có nhiều hạng:

1- Bậc Thánh Arahán Tevijjā: bậc Thánh Arahán chứng đắc Tam Minh: Túc mạmg minh, Thiên nhãn minh, và Lậu tận minh.

2- Bậc Thánh Arahán Chaḷabhiññā: bậc Thánh Arahán chứng đắc Lục thông: Thần túc thông, Nhãn thông, Nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông và Lậu tận thông.

3- Bậc Thánh Arahán Catupaṭisambhidappabheda: bậc Thánh Arahán chứng đắc Tứ tuệ phân tích: Nghĩa (nhân) phân tích, Pháp (quả) phân tích, Ngôn ngữ phân tích và Ứng đối phân tích.

4- Bậc Thánh Arahán Ubhatobhāgavimutta: bậc Thánh Arahán giải thoát bằng 2 pháp hành: thiền định chứng đắc 4 bậc thiền vô sắc giới và thiền tuệ chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả.

5- Bậc Thánh Arahán Paññāvimutta: bậc Thánh Arahán giải thoát bằng pháp hành thiền tuệ chứng đắc Arahán Thánh Đạo, Arahán Thánh Quả….

Mười điểm đặc biệt trong phần định nghĩa về pháp hành thiền tuệ được giải thích tóm tắt. Pháp hành thiền tuệ là một đề tài lớn, có tính chất bao quát, vừa sâu sắc, vừa rộng lớn, nên không có đủ khả năng giảng giải tỉ mỉ rõ ràng được.

Pháp hành thiền tuệ thuộc về lĩnh vực thực hành, để thực nghiệm thấy rõ, biết rõ thực tánh của các pháp, để chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế. Do đó, phần pháp học (lý thuyết), chỉ là phương tiện để hiểu biết pháp hành thiền tuệ mà thôi, không thể nào diễn tả được thực tánh của các pháp; song do nhờ hiểu biết đúng đắn về pháp học, nên hành giả mới có thể hành đúng theo pháp hành thiền tuệ, đến khi phát sanh trí tuệ thiền tuệ, mới thấy rõ, biết rõ được thực tánh của các pháp, dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn.
Logged

Karma Yoga, con đường của Hành Động không có tự ngã.
Trang: [1]   Lên
 
 
Chuyển tới:  

Load 0.261 seconds với 20 câu truy vấn.