Tin tức:

Kiểm tra các đường link fp ở smf

Về Nhà Đi Con

Bắt đầu bởi Niết Bàn Tầm, Th6 15, 2021, 11:14 PM

Chủ đề trước - Chủ đề tiếp theo

Niết Bàn Tầm

Về Nhà Đi Con

Con gái,

Hôm nay hữu duyên, Ba sẽ kể tiếp cho con nghe những trải nghiệm của Ba trên con đường về nhà. Trên con đường đó, Ba chắc chắn đã ngủ mê nhiều kiếp, cũng đã đi lạc lối rất nhiều lần. Kiếp sống hiện tại này cho Ba một sự bắt đầu mới để làm tiếp hoặc một cơ hội để thức tỉnh sau cơn mê. Ba rất trân trọng nó và cố gắng đi tìm lời giải đáp cho những thắc mắc: "tôi là ai?", "cái gì là tôi?", "tại sao tôi ở đây?". Vì có nhân duyên, phước lành, Ba gặp được vài người, nghe kể về chuyện tu hành, và học hỏi được một số cách tu tập. Trải qua một thời gian thực hành trên bản thân mình, chứng nghiệm được một số trạng thái tâm, Ba đúc kết ra được con đường, một lối đi (có thể chỉ cho chính Ba) 'về nhà'. Đối với Ba, 'nhà' là cái Bản Thể, cái vốn có, cái không sinh diệt, cái lưu suất của pháp, cái tĩnh lặng nhẹ nhàng của tâm.

Con đường này mang nhiều sắc màu khác nhau. Mỗi sắc màu tượng trưng cho một giai đoạn nhận thức, sự nỗ lực để vượt qua, và cuối cùng là xả bỏ tất cả. Có tất cả 6 gam màu: đen (black), xanh lá (green), đỏ (red), xanh (blue), trắng (white), và vàng (yellow). Ba sẽ giải thích ý nghĩa của từng màu sau đây.

1. Màu Đen

Tượng trưng cho Vô Minh, nguồn gốc của luân hồi, đau khổ. Ai trong chúng ta đều có lẽ đã từng nghe qua về Tứ Diệu Đế (TDĐ). Có bao nhiêu là video clips, pháp âm, sách vở chắc nói nhiều lắm lắm về TDĐ rồi, Ba cũng không muốn đi vào chi tiết làm gì để tránh việc sao kinh, chép sách, rườm rà mà không cụ thể hóa được đường đi. Ba chỉ tóm gọn các chân lý này như sau:
(1) Khổ Đế: sự thật về Khổ, do đặc tướng Vô Thường của vạn vật, i.e., mọi pháp hữu vi (sự vật / hiện tượng) đều có sinh, trụ, hoại, và diệt.[1]  
(2) Tập Đế: nguyên nhân của Khổ, do bản chất của chúng sanh là Vô Minh, i.e., vướng mắc vào Tham, Sân, và Si mà không thấy được Vô Thường.
(3) Diệt Đế: chấm dứt khổ đau, diệt Vô Minh đạt đến Giải thoát Tri Kiến (GTTK), i.e., tận cùng rốt ráo là vào Niết Bàn.[2]  
(4) Đạo Đế: bằng cách nào để diệt Vô Minh? Chỉ có 8 bước, Bát Chánh Đạo, và phải thực hành theo, bám sát rốt ráo thì mới mong đạt được GTTK.

2. Màu Xanh Lá

Tượng trưng cho Hy Vọng vào con đường giải thoát. Khi đã nắm được 4 chân lý của cuộc sống rồi thì mình sẽ tập trung vào 8 yếu tố cấu thành con đường thoát khổ. Trước đây, Ba có ghi lại cái thấy biết trong thiền định về BCĐ rồi, con xem bài Cô Tám Chánh Đạo để có thông tin chi tiết nhé.[3] Ở đây, Ba chỉ tóm tại ý chính mà thôi.

(1) Chánh Kiến: chọn lọc thông tin tiếp nhận, đối tượng cho các giác quan.
(2) Chánh Tư Duy: sử dụng các thông tin thu nạp, suy nghĩ có trình tự, rõ ràng, đúng đắn.
(3) Chánh Ngữ: nói đúng sự thật, không thiên lệch, không lấp lững.
(4) Chánh Nghiệp: hành động từ tốn, hòa hoãn, cân bằng.
(5) Chánh Mạng: sống bình dị, nhẹ nhàng, không phô trương, tránh xa các ồn ào, tâm lý bè phái.
(6) Chánh Tinh Tấn: hành thiền đều đặn, không bỏ cuộc.
(7) Chánh Niệm: kiểm soát tư tưởng, xả bỏ những vọng tâm, suy nghĩ về giải thoát, quán sát cái tâm để hiểu về mình.
(8 ) Chánh Định: hành thiền theo một phương pháp đúng đắn và hiệu quả.

Trong BCĐ có bao gồm 3 giới: (1) và (2) thuộc về Ý Giới, (3) thuộc về Khẩu Giới, và (4) là Thân Giới.

3. Màu Đỏ

Tượng trưng cho sự Tinh Tấn, nổ lực tu hành. Sự nổ lực, tinh tấn này PHẢI diễn ra liên tục ở cả Đời và Đạo. Ở mặt đời, phương pháp thực hành chỉ gói gọn trong 2 chữ 'Xả Xúc' hoặc mở rộng hơn 'Quán Tâm, Xả Tưởng' (QTXT). Ở mỗi giai đoạn tu hành, mình sẽ vận dụng những kỹ thuật, phương tiện có khác nhau, nhưng tựu chung cũng đều để xả bỏ sự phóng chạy của Thức Tưởng cả.[4] Con hãy xem mặt hồ phẳng lặng, êm đềm chính là cái tâm của con, các gợn rung động rất nhẹ là các luồng Bhavanga, và các đợt sóng là sự phóng dội của Thức Tưởng khi có sự tác động của cảnh (tàu thuyền, gió mưa, chim thú) vào luồng Bhavanga.  

Vì cảnh (hay pháp) đến và đi tùy duyên. Mình không thể lấy cái Ngã của mình để tác động vào nó được. Dù vậy, trong giai đoạn đầu của cuộc đời tu hành: khi cuộc sống còn nhiều bộn bề, nghiệp quả vây quanh, mình có thể 'cố gắng' tác động và thay đổi từng tí một như Ba đã đề cập trong bài Cháo Nóng Húp Quanh trước đây. Khi đã yên ổn hơn rồi, mình có thể bước qua giai đoạn Xả Xúc. Con xem lại bài Tâm Sở Xúc để hiểu rõ hơn về nó và tại sao nó lại là Tâm Sở đứng đầu trong 52 Tâm Sở nhé. Trong bài này, Ba chỉ dùng sơ đồ tóm gọn như bên dưới để diễn giải quá trình hình thành, phát triển, và kết thúc của một lộ trình tâm Dục Giới.

+ Môi trường của Xúc là môi trường sống, sinh hoạt, và làm việc của mình. Nó cũng bao gồm các mối quan hệ gia đình, bạn bè, xã hội, và cả các tương tác trên nền tảng mạng internet, mạng xã hội.
+ Do nghiệp trước đây đã tạo cộng hưởng với duyên hiện tại tác động vào một hay nhiều yếu tố trong môi trường Xúc mà quả hiện tại khởi sanh cảnh. Cảnh này chính là kích thích S hiện bày qua Ngũ Môn (mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân) hay Ý Môn và được tiếp nhận bởi Tâm Xúc. Trong sát na ngắn ngủi tiếp theo, mình sẽ lựa chọn cách phản ứng R lại với S. Có hai cách phản ứng: hành độngkhông hành động. Nếu lựa chọn hành động (bất) thiện thì nghiệp (bất) thiện mới lại sanh, còn nếu lựa chọn không hành động, mà chỉ đón nhận quả S đó, thì một nghiệp quá khứ được giải trừ. Xả Xúc chính là sự lựa chọn không hành động đó. Còn QTXT là quán sát sự đến đi của pháp, đặt biệt là sự sinh khởi của tâm, nhận biết được sự hối thúc hành động và phóng dội của tưởng để rồi 'tác ý' xả bỏ, không nương theo nó mà chu du khắp cõi tưởng.
+ Toàn bộ quá trình này chịu sự chi phối của Định Luật Tương Ưng. Tâm lành thì thu hút được cảnh lành. Cho dù cảnh hung phát sanh do nghiệp quá khứ nhưng tâm hiện tại giữ lành thì khả năng lựa chọn phản ứng lành cũng cao hơn là tâm hung.

Sau khi đã hiểu được lộ trình S-R trên và kiên trì thực hành QTXT một thời gian thì con sẽ tăng dần sự Tỉnh Giác trong việc quán sát, sự lựa chọn R cũng dần dà dễ dàng hơn, sự lang bạt của tưởng trở nên ngắn đi, và cường độ dao động cũng yếu đi rõ rệt. Nói theo ngôn ngữ trong Vi Diệu Pháp, đến một lúc nào đó con sẽ nhận biết được thế nào là tâm Rất Lớn, Lớn, Nhẹ, và Rất Nhẹ. Đại khái, khi ai đó la mắng mình (cảnh S sanh do quả của nghiệp bất thiện), nếu mình phản ứng lại một cách tức giận thì đó là tâm Rất Lớn thuộc nghiệp bất thiện lại sanh. Nếu mình cảm thấy phật lòng nhưng nhận ra được trước khi hành động (hoặc khởi ý chửi rủa) gì đó thì đó là tâm Lớn bất thiện khởi sanh. Nếu mình ghi nhận lời la mắng, lựa chọn không hành động hay tác ý gì thì đó là tâm Nhẹ. Còn nếu mình không nhận biết luôn đó là lời la mắng thì tâm Rất Nhẹ vì nó không đi vào vùng nhận thức của mình.[6]

4. Màu Xanh

Tượng trưng cho sự Sáng Suốt, tự tin, và thông minh trong việc tập định.

Có bao nhiêu tâm tham gia vào quá trình nhập chánh định? Ba tìm hiểu Vi Diệu Pháp và quan sát việc tập của mình, Ba thấy rằng tùy mỗi giai đoạn tập, sự tiến triển trong công phu, và sự nhu nhuyễn trong cách dụng tâm mà số tâm tham gia có sự thay đổi. Trong giai đoạn đầu tu hành, Ba thấy sự cần thiết của 15 Tâm Sở: Xúc, Thọ, Tưởng, Tác Ý, Nhất Điểm, Mạng Căn, Chú Ý, Tầm, Tứ, Xác Định, Tinh Tấn, Hỷ, Pháp Dục, Tín, và Niệm. Có nhiều cách sắp xếp các tâm này tùy theo vai trò và tầm quan trọng của chúng. Chẳng hạn, Ba có thể nhóm chúng như sau:
(1)   Nhóm hỗ trợ / hậu cần: có 8 tâm gồm Xúc, Thọ, Mạng Căn, Xác Định, Tinh Tấn, Hỷ, Pháp Dục, và Tín. Nhóm tâm này giúp tinh thần và cơ thể vật lý ở trạng thái tốt nhất trước khi tập.
(2)   Nhóm hành động / tác chiến: có 7 tâm gồm Tưởng, Tác Ý, Nhất Điểm, Chú Ý, Tầm, Tứ, và Niệm. Nhóm tâm này quyết định đến sự thành bại trong việc có nhập định được hay không.

Ngoài ra, Ba có thể nhóm chúng tương tự như Bát Chánh Đạo như sau:
(1)   Chánh Kiến: có 2 tâm gồm Tín, tin tưởng vào phương pháp, vào mục tiêu cần đạt được dựa trên sự hiểu biết chân chánh; và Xác Định, loại bỏ hoài nghi và xác định rõ ràng mục tiêu tu tập.
(2)   Chánh Tư Duy: có 3 tâm gồm Xúc, lựa chọn đề mục phù hợp với mình, với mục tiêu của buổi tập. Vẽ đề mục ra, i.e., có sự xúc chạm đến đề mục qua nhãn thức và ý thức. Thọ là sự cảm thọ về đề mục. Ví dụ, khi nhìn đề mục là mồi, cảm thấy yêu mến đề mục của mình. Hoặc khi đề mục là con số, cảm thọ có thể thuộc về thọ Xả. Tưởng là dùng tư tưởng để vẽ ra đề mục trong khi tập. Quy trình này phải có thứ tự trước sau và phù hợp với bài tập và mục tiêu tập.
(3)   Chánh Ngữ: có tâm Tác Ý với nhiệm vụ đôn đốc, phối hợp sự hoạt động của các tâm Sở khác. Có vai trò quan trọng nhất trong sự thành bại. Không tác ý bậy bạ như cầu khấn thần linh gia hộ, v.v.
(4)   Chánh Nghiệp: có 2 tâm gồm Tầm, áp đặt các tâm Sở lên đối tượng, i.e., cố vẽ đề mục ra khi kết hợp với Tưởng; và Tứ với chức năng duy trì liên tục sự sinh hoạt lên đối tượng, i.e., cố giữ đề mục liên tục.
(5)   Chánh Mạng: gồm Mạng Căn, tạo môi trường thiện lành cho các tâm, i.e., có thể liên quan đến sức khỏe, tinh thần; Hỷ (Phỉ), cái vui khi tập, suy nghĩ về việc tập đã thấy vui; và Pháp Dục, hứng khởi, mong muốn giải thoát.
(6)   Chánh Tinh Tấn: có tâm Tinh Tấn, cương quyết, vững vàng, không bỏ cuộc.
(7)   Chánh Niệm: có Niệm, hồi tưởng, nhớ lại, nhắc nhở quay về lại đề mục, kiểm soát sự trầm mình trong đề mục.
(8 )   Chánh Định: gồm 2 tâm Chú Ý, bánh lái của chiếc tàu nhập định, liên quan mật thiết với Tầm, Tứ, và Nhất Điểm, kết dính mọi tâm sở và giữ chúng vào đề mục.

Trong 15 tâm Sở đã đề cập ở phần tập chánh định, Ba cần xoáy vào một tâm có lẽ là quan trọng nhất: Chú Ý. Nó là bánh lái cho chiếc tàu nhập định trong mỗi buổi tập. Vì sự chú ý vào đề mục luôn luôn bị chi phối, giành giựt bởi đủ loại tâm lăn xăn, tâm con khỉ nên mình phải có kỹ thuật để làm loại bỏ sự chi phối đó. Ngoài ra, kỹ thuật đó cũng phải hữu ích cho việc triệt tiêu cái tâm chán nản, tâm thích nghi. Con xem lại các bài mà Ba đã viết ra về vấn đề này như Nhập Định Made in Vietnam, Scientific Meditation, Nhập Định - Tâm Lượng Tử, và Nội công: Phương Trình Nhập Định nhé.

Trong bài này, Ba chỉ chép lại thông tin cốt lõi là phương trình nhập định mà Ba gọi là Mathditation Equation of Samadhi (MES) hay Attention-Based Equation of Samadhi (AES):

   Focus = A*Dynamic_Subject + (1 – A)*Mind_Monkeys
      subject to Dynamic_Subject = {N, V, C, Q, U, t}

Trong đó,
+ Focus là sự định tâm, sự tập trung, là chất lượng của sự chú ý.
+ A là sự chú ý, dao động từ 0 đến 100%.
+ Mind_Monkeys là cái tâm lăn xăn, tâm con khỉ phá bỉnh mình lúc cố gắng nhập định.
+ Dynamic_Subject là một đề mục động trung tính (vd. cộng các con số, chuyển đổi chữ ra số, ghép chữ và số, đổi màu các chữ, v.v.). Đề mục này cần bao gồm những yếu tố sau:
(1) N: số lượng (và chiều dài) đơn vị thông tin (vd. 5, f, 23, m, 15).
(2) V: giá trị hay ý nghĩa của từng đơn vị thông tin (vd. số năm, chữ f, số 23, chữ m, và số 15).
(3) C: màu sắc hiển thị của thông tin (vd. màu xanh đậm, tím, đen, đỏ, và xanh lá cây).
(4) Q: yêu cầu về cách xử lý thông tin (vd. cộng dồn theo dạng Fibonacci).
(5) U: khác lạ, tránh dùng lại nhiều lần một đề mục để không bị lờn.
(6) t: có hay không có yêu cầu về thời gian. Dùng khi cần thiết.

Phương trình này đơn giản, trung tính, và hiệu quả. Một khi mình hiểu và vận dụng nhuần nhuyễn nó thì sẽ tác động mạnh mẽ đến 7 Tâm Sở tác chiến đã nêu ở phần trên, và khả năng nhập định cao ở mỗi buổi tập.

5. Màu Trắng

Tượng trưng cho sự Thanh Tịnh. Khi ngưỡng nhập chánh định đã đến, sự tĩnh lặng đã chạm ngõ, đề mục không còn cần thiết nữa. Lúc này, mình bỏ để mục đi, để cái tâm an trụ, không vọng động trong sự tĩnh lặng đó. Đồng thời quán sát, ngắm nhìn sự sinh khởi, đến đi của Tưởng, sự trôi chảy của luồng Bhavanga, của pháp mà không lay động cái tâm. Khi nhập định chưa vững, chưa nhu nhuyễn, sự tĩnh lặng còn nông, chưa sâu và dày. Tâm an trụ còn chưa vững và dễ bị chi phối bởi sự phóng dội của tưởng thức hoặc các pháp tác động từ bên ngoài (như tiếng ồn), mình sẽ có cảm giác các tư tưởng khởi sanh rất gần, lẫn quẩn trong đầu. Dần dà, khi sự ổn định tăng lên, cái tâm an trụ sẽ lâu hơn, nhẹ nhàng hơn, và sự khởi sanh của Tưởng sẽ trở nên xa và yếu dần. Các tưởng thức đó như của ai đó chứ không phải của mình, không phải nằm trong mình hoặc ở ngoài mình mà ở đâu đó xa xa vậy. Hơi thở trong lúc này, lúc có lúc không, có khi ngợp dữ dội, có khi nhẹ nhàng rồi mất dần.

6. Màu Vàng

Tượng trưng cho sự trở về cái Bản Thể vốn có của mình. Ba đã chiến đấu với sự ngộp thở trong một thời gian dài. Mỗi lần như thế Ba lại suy ngẫm, quan sát, rút tỉa kinh nghiệm từ trải nghiệm của mình. Khi nhẹ nhàng, thả lỏng thật tốt thì sự ngộp thở ít, khi chú tâm căng hơn thì ngộp thở nhiều. Cho đến một ngày tháng 10/2020, Ba đã trải qua một giai đoạn tâm tĩnh lặng, quân bình, nhẹ nhàng, thanh thoát trong khoảng 4-5 ngày liên tiếp. Đại khái là cái tâm nó không vọng động, không nói cười, không 'hành' gì cả. Rất im lặng. Khi nào có việc thì cái tâm nó khế hợp với pháp và tập trung vào chuyện cần làm mà tuyệt nhiên không lăn tăn, rồi trở lại lặng yên. Thân tâm nhẹ nhàng là như thế nào thì không thể diễn tả được, chỉ khi chứng nghiệm nó mới hiểu được cảm giác này. Có lẽ Tâm Vãng Sanh là đây. Chỉ khi Ba chợt nhận ra, thì cũng là lúc tình trạng đó bắt đầu giảm dần. Trải nghiệm này giúp Ba hiểu phần nào về cái gốc cội của mình, cái Bản Thể, cái Tự Tánh, cái bất sanh bất diệt đó. Nó cũng giúp Ba hiểu câu thứ 2 trong kinh Patanjali: 'Yoga is to still the patterns of consciousness'.

Nó hoàn toàn thay đổi nhận thức của Ba về con đường tu hành, về mục tiêu cần đạt. Đối với Ba, cái cần đạt là chính là làm cái sự chấm dứt Thức Tưởng. Khi Thức, Tưởng dừng nghỉ thì Bản Thể hoàn nguyên. Ví như trái bong bóng cầm trên tay, bóp đầu này nó sẽ phình ra đầu khác. Chỉ khi không bóp thì nó mới về nguyên trạng thái tròn vốn có của nó. Từ đó, Ba chú tâm vào Tỉnh Giác, dùng nó để Quán Tâm Xả Tưởng trong cả đời sống hàng ngày và trong lúc tập định. Biến nó thành sự sống của mình. Theo thời gian, việc QTXT trở nên nhu nhuyễn dần lên, dịch chuyển dần từ cái phải làm, cần làm, làm, và rồi tự nhiên hơn. Sự Tỉnh Giác thường trực hơn, các tác ý xả bỏ, không theo cũng không còn cần thiết hoặc rất nhẹ. Ba chưa thường định hoàn toàn trong ngôi nhà Bản Thể của mình nhưng thấy rõ được đường đi và ánh sáng. Tâm không còn băn khoăn về DTTĐ nữa, không còn chuyện Sắc, Vô Sắc, và cảnh giới nữa vì tất cả chúng đều có sinh có diệt và cũng là một đoạn trên con đường quay về cái Bản Thể mà thôi. Đường nào rồi cũng về La Mã cả chỉ có mình hiểu mình, lắng nghe, học hỏi từ những người chỉ đường, đúc kết kinh nghiệm rồi tìm đường về cho bản thân. Sự Tỉnh Giác sẽ là mái chèo đưa mình về trạng thái Xả hoàn toàn, và có thể đây là con đường về của chính Ba.

Bây giờ, Ba cũng hiểu luôn về cái câu "Thấy núi sông là núi sông". Vài năm trước, khi Ba đi trên đường và thấy giun bò ra, lúc mình nhặt chúng bỏ vào lề đường thì cái tâm mình nó sợ quê nếu ai nhìn. Hoặc nếu có người ở đó thì mình sẽ không nhặt rồi cảm thấy tội lỗi. Tập lâu rồi, thì sự chi phối giữa cái ngại và việc nhặt giun của cái tâm nó cũng ít dần. Bây giờ, thì cứ nhặt mà không seo nạy gì cái chuyện có người hoặc có ai nhìn, ai ngó cả. Đây chính là quá trình chuyển đổi từ chấp pháp --> thấy pháp --> bỏ pháp. "Pháp đến pháp đi tùy theo Ngã của mỗi người mà đau khổ khác nhau. Chỉ khi mình có thể hòa cùng với pháp thì sự bất sanh bất diệt mới hiện bày." Trung Đạo chính là chuyện giữ Tâm Quân Bình!

Năng lực giác ngộ chính là Phật.
Con đường đưa đến sự tỉnh thức là Pháp.
Người luôn giữ cho thân tâm mình trong chánh niệm là Tăng
.[7]

Hết rồi con.
nbt

[1] 8 loại khổ: Sinh, Lão, Bệnh, Tử, Ái Biệt Ly, Cầu Bất Đắc, Oán Tắng Hội, và Ngũ Uẩn. 4 cái đầu thuộc về Thân (Sắc), 3 cái sau thuộc về Tâm (Thọ, Tưởng, Hành, và Thức), và cả Thân và Tâm cho Ngũ Uẩn. https://thuvienhoasen.org/a12725/32-kho-de.  
[2] Manual of Abhidhamma (Phạm Kim Khánh) p.61: 10 Thằng Thúc: (1) Thân Kiến, (2) Hoài Nghi, (3) Giới Cấm Thủ, (4) Dục Ái, (5) Sân hận, (6) Sắc Ái, (7) Vô Sắc Ái, (8 ) Ngã Mạn, (9) Phóng Dật, và (10) Vô Minh. Tu Đà Hườn (Stream Entry): loại bỏ (1), (2), và (3). Tư Đà Hàm (Once Returner): Làm suy yếu (4) và (5). A Na Hàm (No Returner): loại bỏ (4) và (5). Alahan: loại bỏ (6), (7), (8 ), (9), và (10).
[3] Ngoài ra bài 'Ngoại Kích: Cháo Nóng Húp Quanh' và bài 'Câu Chuyện Bếp Núc' cũng hữu ích cho phần này.
[4] Con nên nhớ rằng QTXT không phải là bịt tất cả các đường suy nghĩ của mình. Mà nó chính là việc chú tâm vào phút giây hiện tại, công việc hiện tại, thực tại đang hiện hữu mà không nảy ý nghĩ lăn xăn khác.
[5] 12 tâm Bất Thiện gồm 8 tâm Tham (V01 – V08), 2 tâm Sân (V09 và V10), và 2 tâm Si (V11 và V12). 8 tâm Đẹp Thiện là V31 – V38.
[6] Khi cảnh khởi sanh từ Ý Môn, thì tâm phản ứng sẽ chia thành Tối (nhẹ) hoặc Sáng (lớn).
[7] Đoạn độc thoại này trong phim về Cuộc đời Đức Phật Thích Ca. https://www.niemphat.vn/cuoc-doi-duc-phat-thich-ca/.