Tin tức:

Kiểm tra các đường link fp ở smf

Đức Phật thuyết pháp về Cư Sĩ (người Tu Tại Gia)...

Bắt đầu bởi TrieuTuLong, Th2 24, 2019, 12:04 AM

Chủ đề trước - Chủ đề tiếp theo

TrieuTuLong

Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya)

14. Tiểu kinh Khổ uẩn (Cùladukkhakkhanda sutta)
Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn sống giữa giòng họ Sakka (Thích-ca), trong thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) tại vườn Nigrodha (Ni-câu-luật Viên).

Lúc ấy, có người Sakka tên Mahànàma đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến xong, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Mahànàma, dòng họ Sakka bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, đã lâu rồi, con đã hiểu như thế này lời dạy của Thế Tôn: "Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm". Bạch Thế Tôn, con đã hiểu như thế này lời dạy của Thế Tôn: "Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm".

Tuy vậy, đôi lúc các tham pháp chiếm cứ tâm con và an trú, các sân pháp chiếm cứ tâm con và an trú, các si pháp chiếm cứ tâm con và an trú. Bạch Thế Tôn, con tự suy nghĩ: "Pháp nào tự trong ta không đoạn trừ được, do vậy các tham pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các sân pháp xâm nhập tâm ta và an trú, các si pháp xâm nhập tâm ta và an trú?"

-- Này Mahànàma, có một pháp trong Ông chưa được đoạn trừ, do vậy các tham pháp xâm nhập tâm Ông và an trú, các sân pháp xâm nhập tâm Ông và an trú, các si pháp xâm nhập tâm Ông và an trú. Và này Mahànàma, pháp ấy trong Ông có thể đoạn trừ được, nếu Ông KHÔNG SỐNG TRONG GIA ĐÌNH , NẾU Ông KHÔNG THỤ HƯỞNG CÁC DỤC VỌNG . Và này Mahànàma, vì pháp ấy trong Ông chưa được đoạn trừ, nên Ông sống trong gia đình và thụ hưởng các dục vọng.

Các dục vọng, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn. Này Mahànàma, nếu một vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ, nhưng nếu vị này chưa CHỨNG ĐƯỢC HỶ LẠC do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh, hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy vị ấy chưa khỏi bị các dục chi phối. Này Mahànàma, khi nào vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ: "Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều. Sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn", và vị này chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào cao thượng hơn, như vậy vị ấy không bị các dục chi phối.

Này Mahànàma, thuở xưa, khi Ta còn là Bồ-tát, chưa chứng được Bồ-đề, chưa thành Chánh Ðẳng Chánh Giác, Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: "Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn", dầu Ta có thấy với như thật chánh trí tuệ như vậy, nhưng Ta chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn. Và như vậy Ta biết rằng, Ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Và này Mahànàma, khi nào Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: "Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn", và Ta chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy Ta khỏi bị các dục chi phối.

Và này Mahànàma, thế nào là vị ngọt các dục? Này Mahànàma, có năm pháp tăng trưởng các dục này: Các sắc pháp do MẮT nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ưng với dục, hấp dẫn; các tiếng do TAI nhận thức...; các hương do MŨI nhận thức...; các vị do LƯỠI nhận thức...; các xúc do THÂN nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ưng với dục, hấp dẫn. Này Mahànàma, có năm pháp tăng trưởng các dục như vậy. Này Mahànàma, y cứ vào năm pháp tăng trưởng các dục này, có lạc và hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các dục.

Và này Mahànàma, thế nào là sự nguy hiểm các dục? Ở đây, này Mahànàma, có thiện nam tử nuôi sống với nghề nghiệp, như đếm ngón tay, như tính toán, như ước toán, như làm ruộng, như buôn bán, như chăn bò, như bắn cung, như làm công cho vua, như làm một nghề nào khác. Người ấy phải chống đỡ lạnh, phải chống đỡ nóng, phải chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng, mặt trời, các loài bò sát, bị chết đói chết khát. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.

Này Mahànàma, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: "Ôi! Sự nỗ lực của ta thật sự là vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không kết quả". Này Mahànàma, như vậy, là sự nguy hiểm các dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

Này Mahànàma, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, và các tài sản ấy được đến tay mình, vì phải hộ trì các tài sản ấy, vị ấy cảm thọ sự đau khổ, ưu tư: "Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao trộm cướp khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?" Dầu vị ấy hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng. Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: "Cái đã thuộc của ta, nay ta không có nữa". Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

Lại nữa, này Mahànàma, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

Lại nữa, này Mahànàma, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ dàn trận hai mặt, và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

Lại nữa, này Mahànàma, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ công phá thành quách mới trét vôi hồ và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Ở đây, họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ đổ nước phân sôi, họ đè bẹp nhau bằng đá, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

Lại nữa, này Mahànàma, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ đột nhập nhà cửa, họ cướp giật đồ đạc, họ hành động như kẻ cướp, họ phục kích các đường lớn, họ đi đến vợ người. Các vua chúa khi bắt được một người như vậy liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi, họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình... Hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa)... chúc thủ hình (đốt tay)... khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt)... bì y hình (lấy vỏ cây làm áo)... linh dương hình (hình phạt con dê núi)... câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt)... tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền)... khối trấp hình... chuyển hình... cao đạp đài... họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm của dục... (như trên)... là nguyên nhân của dục.

Lại nữa, này Mahànàma, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý. Do họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý, khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên, do chính dục làm nhân.

Này Mahànàma, một thời Ta ở tại Rajagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakuta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, rất nhiều Nigantha (Ni-kiền Tử) tại sườn núi Isigili, trên Kalasila (Hắc Nham), đứng thẳng người, không chịu ngồi và cảm giác những cảm thọ thống thiết, khổ đau, khốc liệt, bén nhạy. Này Mahànàma, rồi Ta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến sườn núi Isigili, tại Kalasila chỗ các Nigantha ấy ở, khi đến nơi Ta nói với các Nigantha ấy: "Chư Hiền, tại sao các Ngươi lại đứng thẳng người, không chịu ngồi xuống và cảm giác những cảm thọ thống thiết, khổ đau, khốc liệt, bén nhạy như vậy?"

Này Mahànàma, được nói vậy các Nigantha ấy trả lời Ta như sau: "Này Hiền giả, Nigantha Nataputta - là bậc toàn tri, toàn kiến, tự xưng là có tri kiến toàn diện như sau: 'Dầu ta có đi, có đứng, có ngủ và có thức, tri kiến luôn luôn được tồn tại liên tục ở nơi ta'. Vị ấy nói như sau: 'Này các Nigantha, nếu xưa kia Ngươi có làm ác nghiệp, hãy làm cho nghiệp ấy tiêu mòn bằng khổ hạnh khốc liệt này. Sự không làm ác nghiệp trong tương lai chính do sự hộ trì về thân, sự hộ trì về lời nói, sự hộ trì về ý ngay trong hiện tại, ở tại nơi đây. Như vậy chính nhờ sự thiêu đốt, sự chấm dứt các nghiệp quá khứ, sự không làm các nghiệp mới, mà không có sự tiếp tục trong tương lai. Do sự không tiếp tục trong tương lai, các nghiệp được diệt trừ; do nghiệp được diệt trừ, khổ được diệt trừ; do khổ được diệt trừ, cảm thọ được diệt trừ; do cảm thọ được diệt trừ, tất cả khổ đau sẽ được tiêu mòn'. Và vì chúng tôi chấp nhận điều ấy, và chúng tôi kham nhẫn điều ấy, nên chúng tôi được hoan hỷ."

Này Mahànàma, khi được nói vậy Ta nói với các Nigantha ấy như sau: "Chư Hiền Nigantha, các Ngươi có biết chăng, trong quá khứ, các Ngươi có mặt hay các Ngươi không có mặt?" --"Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết." --" Chư Hiền Nigantha, các Ngươi có biết chăng, trong quá khứ, các Ngươi không làm ác nghiệp hay có làm ác nghiệp?" --"Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết." --"Chư Hiền Nigantha, các Ngươi có biết chăng, các Ngươi không làm các nghiệp như thế này hay như thế kia?" --"Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết." --"Chư Hiền Nigantha, các Ngươi có biết chăng: Mức độ đau khổ như thế này đã trừ diệt, mức độ đau khổ như thế này cần phải trừ diệt? Hay, khi mức độ đau khổ như thế này đã được trừ diệt, thời tất cả đau khổ sẽ được trừ diệt?" --"Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết." --"Chư Hiền Nigantha, các Ngươi có biết chăng, sự đoạn trừ ngay trong hiện tại các bất thiện pháp và sự thành tựu các thiện pháp?" --"Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết."

--"Chư Hiền, theo các Ngươi nói, Nigantha các Ngươi không biết: Trong quá khứ các Ngươi có mặt hay các Ngươi không có mặt; các Ngươi không biết, trong quá khứ các Ngươi không làm các ác nghiệp hay có làm các ác nghiệp; các Ngươi không biết, các Ngươi không làm ác nghiệp như thế này hay như thế kia; các Ngươi không biết, mức độ đau khổ như thế này đã được trừ diệt, mức độ đau khổ như thế này cần phải trừ diệt; mức độ đau khổ như thế này đã được trừ diệt thời tất cả đau khổ sẽ được trừ diệt; các Ngươi không biết, sự đoạn trừ ngay trong hiện tại các bất thiện pháp và sự thành tựu các thiện pháp. Chư Hiền Nigantha, sự kiện là như vậy thì những kẻ săn bắn ở đời, với bàn tay đẫm máu, làm các nghiệp hung dữ, được tái sanh trong loài người, những hạng ấy có xuất gia trong hàng ngũ Nigantha các Ngươi không?"

--"Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc thì vua Magadha Seniya Bimbisara (Tần-bà-ta-la) có thể đạt được hạnh phúc, và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama.

"Lời nói này thật sự đã được các Tôn giả Nigantha nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư. Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Và chính ta ở đây cần phải được hỏi như sau: 'Giữa các bậc Tôn Giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'

"Hiền giả Gotama, lời nói này thật sự đã được chúng tôi nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư: Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Hãy để yên sự việc như vậy. Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Gotama: 'Giữa quý vị Tôn giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'

--"Chư Hiền Nigantha, nay Ta sẽ hỏi các Ngươi một câu, cũng vấn đề này. Nếu các Ngươi vui lòng, hãy trả lời câu hỏi ấy. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn bảy ngày bảy đêm có được không?

--"Này Hiền giả, không thể được.

--"Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn sáu ngày sáu đêm, luôn năm ngày năm đêm, luôn bốn ngày bốn đêm, luôn ba ngày ba đêm, luôn hai ngày hai đêm, luôn một ngày một đêm không?

--"Này Hiền giả, không thể được.

--"Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong một ngày một đêm. Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể , không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong hai ngày hai đêm, luôn trong ba ngày ba đêm, luôn trong bốn ngày bốn đêm, luôn trong năm ngày năm đêm, luôn trong sáu ngày sáu đêm, luôn trong bảy ngày bảy đêm. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Ta?

--"Sự kiện là như vậy, Tôn giả Gotama sống hạnh phúc hơn vua Magadha Seniya Bimbisara."

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Mahànàma thuộc giòng họ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Karma Yoga, con đường của Hành Động không có tự ngã.

TrieuTuLong

#1
Trung Bộ Kinh
Majjhima Nikaya

71. Kinh Dạy Vacchagotta về Tam Minh
(Tevijjavacchagotta sutta)..du sĩ Vacchagotta bạch Thế Tôn:

-- Tôn giả Gotama, có thể có vị tại gia nào không đoạn trừ kiết sử tại gia mà khi thân hoại mạng chung lại có thể đoạn tận khổ đau?

-- Này Vaccha, KHÔNG CÓ NGƯỜI TẠI GIA NÀO không đoạn trừ Kiết Sử Tại Gia mà khi thân hoại mạng chung lại có thể đoạn tận khổ đau.

-- Tôn giả Gotama, có thể có người tại gia nào không đoạn trừ kiết sử tại gia mà khi thân hoại mạng chung lại có thể sanh Thiên?

-- Không phải chỉ một trăm, này Vaccha, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, nhưng nhiều hơn như vậy là những người tại gia không đoạn trừ kiết sử tại gia mà khi thân hoại lại có thể sanh Thiên.

-- Tôn giả Gotama, có hạng tà mạng ngoại đạo nào, sau khi thân hoại mạng chung có thể diệt tận khổ đau?

-- Này Vaccha, không có một tà mạng ngoại đạo nào, sau khi thân hoại mạng chung có thể diệt tận khổ đau.

-- Tôn giả Gotama, có hạng tà mạng ngoại đạo nào, sau khi thân hoại mạng chung có thể sanh Thiên?

-- Này Vaccha, dầu cho ta có nhớ đến 91 kiếp, Ta không biết một tà mạng ngoại đạo nào đã sanh Thiên, trừ một vị, và vị này thuyết về nghiệp và thuyết về tác dụng của nghiệp.

-- Sự việc là như vậy, Tôn giả Gotama, thời ngoại đạo giới này (titthayatanan) là trống không cho đến vấn đề sanh Thiên.

-- Sự việc là như vậy, này Vaccha, thời ngoại đạo giới này là trống không cho đến vấn đề sanh Thiên.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Karma Yoga, con đường của Hành Động không có tự ngã.

TrieuTuLong

Như vậy, qua hai thời Pháp khác nhau, giảng cho 2 vị tại gia Cư sĩ khác nhau, Thế Tôn đều xác nhận "KHÔNG Có người tại gia Cư sĩ nào có thể đoạn tận khổ đau"(nếu có thì Thế Tôn và chư Phật quá khứ đã không xuất gia để chứng ngộ Giải thoát dưới cội Cây Bồ-đề); và để đoạn tận được các pháp đó, người ấy phải "Không sống trong gia đinh, không thọ hưởng các dục".
Karma Yoga, con đường của Hành Động không có tự ngã.

langnghiem

Trích dẫn từ: TrieuTuLong trên Th2 24, 2019, 12:26 AM
Như vậy, qua hai thời Pháp khác nhau, giảng cho 2 vị tại gia Cư sĩ khác nhau, Thế Tôn đều xác nhận "KHÔNG Có người tại gia Cư sĩ nào có thể đoạn tận khổ đau"(nếu có thì Thế Tôn và chư Phật quá khứ đã không xuất gia để chứng ngộ Giải thoát dưới cội Cây Bồ-đề); và để đoạn tận được các pháp đó, người ấy phải "Không sống trong gia đinh, không thọ hưởng các dục".

Trích kinh: "Này Vaccha, KHÔNG CÓ NGƯỜI TẠI GIA NÀO không đoạn trừ Kiết Sử Tại Gia mà khi thân hoại mạng chung lại có thể đoạn tận khổ đau."

Với đoạn trích trên LN hiểu là không có ai có thể tận khổ nếu Không Đoạn Trừ Kiết Sử Tại Gia. Nói cách khác, nếu người tại gia Đoạn Trừ Kiết Sử Tại Gia thì vẫn có khả năng tận khổ. Khác với kết luận của chú: "...Thế Tôn đều xác nhận "KHÔNG Có người tại gia Cư sĩ nào có thể đoạn tận khổ đau"
Quý ông Don-ki-hô-tê!!

p4

Nếu Xuất Gia mà tu được thì tui cũng Xuất Gia rồi. Nhưng mà, tui lại từ trong chùa lại chui ra ngoài này đây. Và đang lè phè tu hihi. Nên thời nào không biết, chứ thời đại này, chui vô chùa tui thấy rất rắc rối, khó tu hơn nhiều. Tui cũng có trò chuyện với 2  thầy chùa, ở 2 nơi khác nhau, lại đều nghe một câu nói oái ăm như thế này: Hồi xưa, khi còn là chú điệu thì tu cũng kha khá (theo ý của mấy ổng), giờ thì khó tu bởi vì công việc của một thầy trù trì nó bận rộn (Tui nhớ đại ý như vậy).

Muốn tự tại hơn một chút khi ở tại gia, thì có thể tự chọn lối sống cho riêng mình, miễn là có thể tu tập được là được.

Vậy thì bài Kinh trên áp dụng cho trường hợp nào, cho đối tượng nào?


vuhanp

Kính Thầy, ,sẽ vừa vượt đại dương với vết mổ banh lồng ngực như vậy, vẫn giọng nói rổn rãng đầy oai lực cở 1000 đề-xi-ben, thì sau bài Pháp này ắt hẵn Thầy ...mệt te tua...anh chị Admin cũng nên né chút vì Thầy đang thời kỳ hồi phục. Nếu không phải là chuyện sống còn thì cứ để đấy...sẽ có phân giải, Thầy có dặn dò về sau này sẽ có người hỏi, ...và Thầy chính thức về HƯU, thay vì bê nguyên xi lời Thầy lên diễn đàn, nên chuyển thành bài viết...và mong Thầy đuợc an vui trong sự tinh tấn của chúng ta. Kính !

Hbr

Trích dẫn từ: TrieuTuLong trên Th2 24, 2019, 12:26 AM
Như vậy, qua hai thời Pháp khác nhau, giảng cho 2 vị tại gia Cư sĩ khác nhau, Thế Tôn đều xác nhận "KHÔNG Có người tại gia Cư sĩ nào có thể đoạn tận khổ đau"(nếu có thì Thế Tôn và chư Phật quá khứ đã không xuất gia để chứng ngộ Giải thoát dưới cội Cây Bồ-đề); và để đoạn tận được các pháp đó, người ấy phải "Không sống trong gia đinh, không thọ hưởng các dục".
Chuyện Đức Phật thuyết pháp cho Cha, rồi chuyện Bà Hoàng Hậu xinh đẹp nghe pháp, đều đắc quả A La Hán đó. Trong cuốn Đức Phật và Phật pháp thì không thấy có vụ nào Ông Phật bảo phải làm lễ xuất gia trước, rồi mới  acb gì đó để thành A La Hán được.

Anh kiểm tra  lại xem phần dịch từ Pali ...=> tiếng Việt có đúng không. Còn chưa thoả mãn nữa thì chịu khó đi tìm Ông nào nói cái đó mà hỏi. Hihihi

bongsen

Trích dẫn từ: TrieuTuLong trên Th2 24, 2019, 12:26 AM
Như vậy, qua hai thời Pháp khác nhau, giảng cho 2 vị tại gia Cư sĩ khác nhau, Thế Tôn đều xác nhận "KHÔNG Có người tại gia Cư sĩ nào có thể đoạn tận khổ đau"(nếu có thì Thế Tôn và chư Phật quá khứ đã không xuất gia để chứng ngộ Giải thoát dưới cội Cây Bồ-đề); và để đoạn tận được các pháp đó, người ấy phải "Không sống trong gia đinh, không thọ hưởng các dục".
Anh trieutulong có muốn tập thêm yoga thì em gửi cho link tài liệu tham khảo nha.. Có lẽ đời sống, công việc đã làm cho chúng ta quá căng thẳng.. hihi

TrieuTuLong

#9
Đọc kỹ, có 2 ý như sau:
- Để đoạn trừ Kiết  Sử hoàn toàn: phải Không thọ hưởng các Dục thế gian. Thay vào đó là đạt tầng thiền thấp nhất là Sơ Thiền để có Hỷ Lạc.

- Chứng Niết Bàn rồi, sau đó tình nguyện quay về chịu Khổ, làm Bồ Tát độ sanh.

Lưu ý: Chứng (gặp) và Đắc (₫ạt, giữ được).

Karma Yoga, con đường của Hành Động không có tự ngã.

TrieuTuLong

Tiếp tục đề tài về Cư Sĩ Tại Gia.
Mi Tiên Vấn Đáp, Chương 7, bài 106.

106. Bậc Thánh cư sĩ sao lại phải đảnh lễ, cúng dường phàm Tăng?

- Thưa đại đức! "Người đắc pháp xuất thế gian là vô cùng cao quý, xứng đáng để cho chư thiên và nhân loại đảnh lễ, cúng dường". Lời của Đức Đại Bi thuyết cho Setthà nghe như thế có đúng chăng?

- Thưa đúng.

- Thế tại sao sau đó, Đức Thế Tôn còn thuyết rằng: "Những tại gia cư sĩ đắc quả thánh Tu-đà-huờn rồi, họ chỉ còn nghiệp rất nhẹ, không còn đọa vào bốn đường ác, đức tin Tam Bảo đã vững chắc, là người đã thấy rõ pháp; tuy nhiên, những tại gia cư sĩ đắc quả Thánh Tu-đà-huờn ấy, khi gặp chư tỳ khưu Tăng bất kể thánh hay phàm, đều phải đứng dậy, mời ngồi, lễ bái và cúng dường". Lời thuyết này cũng đúng chăng, thưa đại đức?

- Vâng, cũng rất đúng!

- Vậy thì lời thuyết sau phủ định lời thuyết trước? Lời thuyết sau bắt các vị Thánh đã đắc quả xuất thế gian phải lễ bái, cúng dường những vị phàm Tăng thế gian sao? Nghe có lọt tai không chứ?

Đại đức Na-tiên mỉm cười:

- Rất lọt tai là khác, nếu như đại vương biết rõ những pháp cao thượng mà những vị phàm Tăng kia đang thực hành, đang y chỉ, đang bảo lưu, gìn giữ, tâu đại vương!

- Xin đại đức hãy lật đứng dậy những cái gì khuất lấp ở trong cái đầu óc u mê của trẫm!

- Đại vương đừng quá tự khiêm, bần tăng sẽ nói đây! Là những vị phàm Tăng ấy, tâu đại vương, họ hằng có hai mươi pháp hành cao thượng của sa môn. Ngoài ra, còn hai pháp cao thượng nữa thuộc về phẩm mạo, tăng tướng nhằm hỗ trợ, nâng đỡ cho hai mươi pháp cao thượng nêu trên. Như vậy, tất cả có hai mươi hai pháp mà họ đang y chỉ, thực hành, đáng để cho các vị Thánh cư sĩ Tu-đà-huờn ngưỡng mộ, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, tâu đại vương! Hai mươi pháp ấy như sau:

Một là, tâm bi mẫn và sự chơn thật;
Hai là, hỷ hoan trong đời sống thanh cao;
Ba là, đang thực hành pháp;
Bốn là, tứ vô lượng tâm;
Năm là, thu thúc lục căn;

Thứ sáu, thu thúc trong giới bổn pàtimokkha;
Thứ bảy, nhẫn nhục;
Thứ tám, vắng lặng;
Thứ chín, thỏa thích trong chánh pháp;
Thứ mười, thực hành pháp cao thượng;

Mười một, thường thích ở ẩn;
Mười hai, hổ thẹn tội lỗi;
Mười ba, ghê sợ tội lỗi;
Mười bốn, tinh tấn;
Mười lăm, không giải đãi (dễ duôi);

Mười sáu, biết học hỏi giáo pháp;
Mười bảy, biết giảng giải giáo pháp;
Mười tám, thỏa thích trong giới đức;
Mười chín, không tham muốn, không chất chứa, không luyến tiếc;
Hai mươi là, đầy đủ tất cả các điều học.

Và hai pháp cao thượng thuộc phẩm mạo, tăng tướng là:

Thứ nhất, thọ dụng y cà-sa;
Thứ hai, đầu cạo trọc.

Đại vương thấy thế nào, hai mươi hai pháp ấy có cao thượng chăng?

- Thưa, đồng ý là cao thượng, nhưng dẫu sao cũng mới chỉ là pháp cao thượng chứ không phải là người cao thượng!

- Nhưng mà chư tỳ khưu Tăng có vị đã chứng, đang chứng, và sẽ chứng, tâu đại vương!

- Xin đại đức tuần tự giảng cho nghe. Thật là đáng khâm phục trí tuệ biện tài của đại đức nếu như đại đức giảng trôi nạn vấn của trẫm!

- Vâng, đại vương nghĩ thế nào, nếu có vị tỳ khưu thọ trì đầy đủ hai mươi hai pháp ấy; thực hành không cho hư hỏng hai mươi hai pháp ấy, thực hành trọn vẹn hai mươi hai pháp ấy; có thể tiến từ bậc hữu học lên bậc vô học, đắc quả A-la-hán thì vị cư sĩ Thánh quả Tu-đà-huờn kia nên đứng dậy mời chào, lễ bái, cúng dường các vị tỳ khưu ấy không?

- Rất xứng đáng!

- Tại sao lại xứng đáng?

- Vì dù sao Thánh cư sĩ Tu-đá-huờn đâu có được hai mươi hai pháp ấy? Một vì tỳ khưu đắc Tu-đá-huờn, quả vị tuy bằng người cư sĩ nhưng sẽ cao thượng hơn người cư sĩ vì vị tỳ kheo còn có hai mươi hai pháp quý báu ở bên mình, đáng được trọng nể hơn vậy? Nhưng nếu vị tỳ khưu thọ trì hai mươi hai pháp, có thực hành nhưng chưa thành tựu đầy đủ hai mươi hai pháp ấy; chưa đạt địa vị hữu học hoặc vô học thì làm sao vị Thánh cư sĩ lại lễ bái, cúng dường được, đại đức?

- Thưa, vẫn rất xứng đáng lễ bái, cúng dường - vì vị Thánh cư sĩ sẽ nghĩ rằng: "Dầu sao, các ngài tỳ khưu cũng là môn đệ bậc cao của Đức Phật, đã thọ trì giới bổn thanh tịnh, đã từng thuyết giới bổn thanh tịnh. Các ngài đều có khả năng làm những việc mà những cư sĩ bậc Thánh không thể làm được, là có khả năng cho những người xuất gia thọ sa đi giới và thọ cụ túc giới. Ngoài ra có vị tỳ khưu, dẫu là phàm Tăng, nhưng, chính họ là người kế thừa, bảo lưu, giữ gìn hạt giống bồ-đề làm cho Phật giáo được hưng thịnh lâu dài". Tâu đại vương! Nếu vị Thánh cư sĩ suy nghĩ như thế ở trong tâm, vị ấy có đứng dậy, mời ngồi, lễ bái, rót nước, dâng vật thực đến cho chư tỳ khưu phàm Tăng chăng?

- Thưa, suy nghĩ ấy rất chánh đáng, rất thuyết phục, xứng đáng đảnh lễ, cúng dường lắm! Nhưng, ngoài ra, các vị tỳ khưu có thọ trì hai mươi hai pháp ấy, nhưng khuyết tật hoặc hư hỏng hai mươi hai pháp ấy - thì chắc chắn không xứng đáng rồi!

- Vẫn rất xứng đáng, tâu đại vương! Vì bậc Thánh cư sĩ sẽ suy nghĩ rằng: "Họ hư hỏng, khuyết tật nhưng họ vẫn đang trong tăng tướng và phẩm mạo cao thượng; họ đang đi trên con đường phạm hạnh, họ ăn một bữa, họ thiểu dục, tri túc; họ thường sống nơi tịch mịch, xa chỗ huyên náo ồn ào, xa chỗ ngũ dục thấp hèn! ... Còn ta là gì? Ta là cư sĩ áo trắng, dù đắc quả Tu-đà-huờn, nhưng ta vẫn có gia đình với vợ và con, bạc tiền, của cải, danh vọng, địa vị, nghề nghiệp nuôi sống. Ta không cắt móng tay, không cạo râu tóc, vẫn trang điểm, vẫn thoa vật thơm, y phục lành tốt, thọ hưởng ngũ dục, ăn ngon, mặc ấm, giường cao, nhà rộng v.v... Chỉ nguyên nhân ấy thôi, ta đã phải lễ bái, cúng dường đến các ngài rồi. Huống hồ các ngài, chư phàm Tăng ấy còn có khả năng dạy giáo pháp, truyền giới luật cho người tại gia, người xuất gia? Đấy là những việc mà không một Thánh cư sĩ siêu phàm nào làm được". Đại vương! nếu khi mà vị Thánh cư sĩ suy nghĩ như thế - thì vị ấy có đứng dậy tiếp rước, mời ngồi với hai tay chấp lại thành kính không, hở đại vương?

- Ồ! nếu mà suy nghĩ vậy thì quả thật trẫm đã thua xa trí tuệ thấu suốt ngọn ngành của đại đức rồi!

- Không dám!

- Chắc chắn là vậy! Vì sự gợi ý sáng suốt của đại đức mà trẫm có được một ví dụ như sau: "Trẫm có một vị hoàng tử, trẫm cho đi học văn chương, triết học ... nơi một thầy bà-la-môn, là một bậc giáo thọ lớn. Nhờ sự giáo huấn của thầy bà-la-môn lỗi lạc, con trẫm được nên người, thành tài. Nếu sau này mà con trẫm có lên vương, thì trẫm cũng phải hằng nhắc nhở con trẫm rằng: Con nên hằng đến thăm thầy, kính trọng, đảnh lễ thầy, vì nhờ thầy mà bây giờ con đã trở nên một vị vua xứng đáng". Thưa đại đức! Cũng vậy là vị Thánh cư sĩ kia, mặc dầu ở địa vị cao hơn, quý báu hơn; nhưng dù sao cũng nhờ các vị tỳ khưu phàm Tăng, là bậc thầy dạy đạo cho mình, cho mình thọ trì tam quy, ngũ giới, dạy pháp học, pháp hành ... để mình có cơ hội tiến tu và nhập vào dòng Thánh ngày hôm nay! Chỉ ngay cái sự tri ân ấy thôi cũng xứng đáng lễ bái, cúng dường rồi, phải vậy không đại đức?

- Rất là chính xác! Đại vương có thể suy diễn cả những điều mà bần tăng đang định nói ra, chứng tỏ đại vương có thể đi đến một sự nhất trí về kết luận của bần tăng như sau: "Không kể phàm, không kể thánh - chỉ ngay cái phẩm vị tỳ khưu - đã là phẩm vị cao thượng, xứng đáng cho trời và người lễ bái, tôn trọng, cúng dường".

- Rất đồng ý!

- Cho nên, vị Tu-đà-huờn cư sĩ lễ bái, cúng dường phẩm vị tỳ khưu là phải lẽ. Cho chí một vị cư sĩ A-la-hán, muốn bảo toàn phẩm hạnh thanh cao của mình, đắc quả A-la-hán trong ngày nào
  • thì phải xuất gia phẩm vị tỳ khưu trong ngày ấy. Nếu quá một ngày không gặp đủ số Tăng hội, thì vị cư sĩ A-la-hán ấy đành phải Niết bàn! Cho hay, phẩm vị tỳ khưu cao thượng, quý báu dường ấy mà ít người hiểu cho trọn vẹn, thưa đại vương!

  • Đôi chỗ nói là bảy ngày.

    Đức vua Mi-lan-đà gật đầu hóm hỉnh:

    - Gặp được bậc thiện trí thức thông tuệ như đại đức đây, hôm nay, đã làm cho tâm tư trẫm mát mẻ, rỗng không nghi vấn - dẫu trẫm là vị đế vương sang cả, quyền uy vô tận; đại đức chỉ là một công dân thôi, trẫm cũng phải cung kính, đảnh lễ như thường!

    - Đại vương quả là bậc thiện trí!

    - Không dám!

    https://www.budsas.org/uni/u-kinh-mitien/mitien-07.htm


Karma Yoga, con đường của Hành Động không có tự ngã.

nhà binh

#11
Khoan nói tới chuyện: kinh này là Kinh Nghiệm hay kinh dị. Và khoan bàn tới chuyện đọc kinh của ông trieutulong.  Chỉ nói tới chuyện là: có sự mau thuẩn giữa kinh và thật tế là:
1. Kinh nói cư sĩ không xuất gia thì tu không thành công được (theo lời ông trieutulong kết luận)
2. Nhưng thực tế thì Hoa Sen Trên Đá đã có ít nhất 4 Người còn sống Đã Tu Xong

Vậy bây giờ ông trieutulong có 2 cách giải quyết nè:
Cách 1. Tìm cho ra một Bậc Vô Học để chứng thực vụ này, nếu tìm không được thì có cách tiếp là
Cách 2. Tự mình đi tới đó để chứng thực là tốt nhất.

Ngoài ra thì không ai trả lời được cho ông đâu.

Giải thích thêm: chỉ có Bậc Vô Học rồi mới chứng thực được Tu Xong là như thế nào.

Chúc ông may mắn!
Nhà Binh
"nhà binh nhìn Ba, cạo đầu cầu đạo"

TrieuTuLong

Nhà Binh ơi,

Tui sưu tầm các bài Kinh dành cho Tu Sĩ Tại Gia. Thì thấy nó khác với kinh mà Đức Phật giảng áp dụng cho các tỳ kheo và tỳ kheo ni (xuất gia), mà người ta hay nhầm lẫn là pháp đó có thể áp dụng được cho tất cả mọi giới tu sĩ tại gia hay xuất gia...

Tu đã sang được bờ bên kia xong, nhưng quay trở lại với bà con (Bồ Tát tiếp tục chấp nhận khổ đau, vào vòng luân hồi). Khác với tu xong rồi hưởng quả Niết Bàn 24/24 (100%) coi như kiếp này là kiếp cuối cùng... Theo tui hiểu là như vậy ?

Hết.
Karma Yoga, con đường của Hành Động không có tự ngã.

brightmoon000

#13
Ngôn ngữ thì lúc nào cũng là tương đối, nó còn phụ thuộc vào đối tượng và hoàn cảnh nào mà Đức Phật muốn thuyết pháp. Tiếc rằng không ở lúc đó, cái thời điểm đó, và được Đức Phật chỉ điểm cho để đúng với trường hợp của bản thân mình.

Với người háo cái quả vị, mà chẳng có chút giới nào, thì bài Pháp luôn là: hãy làm cho tốt cái móng, rồi mới tính tiếp chuyện khác, bất kể là tại gia hay xuất gia.
Với người đã có cái móng, thì thầy bảo xây cái tầng 1 rồi hẵng tính xây cái tầng 2.
Với người đã có đủ móng, đủ kỹ thuật, tính được hướng gió, khả năng đất lún thì Thầy đâu phải chỉ lại những cái kiến thức kia nữa. Thầy sẽ chỉ cái khác, ví dụ như Vi diệu pháp chẳng hạn.

Tuy nhiên, vì 90% con người có đặc tính giống nhau, cho nên bài Pháp dành cho cư sĩ là đúng với 90% số đông. Vấn đề là ai cũng nghĩ mình khác biệt và nghĩ mình nằm trong 10% còn lại. Cho nên: mới cần đến Ăn ngay nói thật và có Hiếu, để cuối cùng biết mình đang ở đâu.



nhà binh

#14
Khoan khoan, làm sao "hết" được huynh. Vì chuyện tới đây thì nó lại có hai vấn đề:

1. Tu: cái này thì Thầy và Mun đã nói.
2. Cách diễn giải không rõ ràng. Nb sẽ nói về cái này:

2.1. Đầu tiên huynh để một tựa đề rất kêu: "Đức Phật thuyết pháp về Tu Tại Gia".
Rồi huynh đưa ra một bài viết xanh rờn mà không có một dấu chấm hỏi (?) nào
Trích dẫn từ: TrieuTuLong trên Th2 24, 2019, 12:26 AM
Như vậy, qua hai thời Pháp khác nhau, giảng cho 2 vị tại gia Cư sĩ khác nhau, Thế Tôn đều xác nhận "KHÔNG Có người tại gia Cư sĩ nào có thể đoạn tận khổ đau"(nếu có thì Thế Tôn và chư Phật quá khứ đã không xuất gia để chứng ngộ Giải thoát dưới cội Cây Bồ-đề); và để đoạn tận được các pháp đó, người ấy phải "Không sống trong gia đinh, không thọ hưởng các dục".

2.2. Rồi sau khi mọi người cho ý kiến thì huynh vẫn cho một bài viết xanh rờn với kết luận là "tui hiểu như vậy. HẾT"

Diễn đàn HSTĐ có 2 phần: Đạo và quản lý diễn đàn. Như huynh đã biết việc nhiều như thế nào. Về quản lý diễn đàn đã khó, nhưng không có nghĩa là không làm được, vì mỗi người giúp một tay.
Nhưng còn về phần "Đạo" thì khó hơn. Vì không như Đời, Đạo có biến khúc, có sương mù. Do đó cần phải rất rất cẩn thận.

Lúc trước khi lập ra diễn đàn, Thầy không bao giờ nói là: những thành viên khi vô diễn đàn nên như thế này hay thế kia. Bây giờ cũng vậy.

Nhưng, là những thành viên bám trụ lâu năm, chúng ta thấy được là: nếu post một bài lên diễn đàn mà không để hỏi, mà chỉ để nêu lên cái nhận định của mình, thì chúng ta nên nói thêm câu "tui nghỉ như vậy: ..." rồi viết ra ý mình muốn nói.
Làm như vậy để tránh sự hiểu lầm cho những thành viên mới, họ sẽ nghĩ đây là "diễn đàn phán". Rồi lại sẽ có những trích dẫn mà không để ý đến Thực Hành.

Cách thành văn và diễn đạt của Thầy bấy lâu nay có lẽ đã quá đủ để chúng ta học hiểu được: "như thế nào để diễn giải ý của mình cho rõ ràng bằng văn viết".

Mong huynh cùng anh chị em chung tay "giảm áp" cho Thầy, Mun, Tiểu Liên Hoa, cùng các Nhí. Mà khởi đầu là là việc post bài rõ ý.

NB
"nhà binh nhìn Ba, cạo đầu cầu đạo"