Tin tức:

Kiểm tra các đường link fp ở smf

Rong Rêu 2019

Bắt đầu bởi TamDao, Th6 06, 2019, 08:05 PM

Chủ đề trước - Chủ đề tiếp theo

Đức Thiện

Trích dẫn từ: tuephuong5 trên Th6 25, 2019, 01:26 AM
Nghe thầy kể về ngài angulimala ,tp mần đại thiệt tình khổ với mấy em chuột .
Đành làm đại đứng ngó lên trời nói thiệt tình từ hồi tui bẩy mấy con chuột này tới nay tui không có tâm giết hại họ .
Nếu chư hộ pháp thấy đúng thì xin đẩy họ vô lồng tui thả đi nơi khác .
Tối 1 em nhỏ chui vô lồng và tới nay thấy HƠI ÊM .
Thôi êm ngày nào mừng ngày ấy.
Cháu nghĩ là xung quanh mình toàn là nhân duyên vô lượng kiếp của mình cả. Thế thì có những kiếp làm chuột mình cũng phá phách này nọ giống nó nên ráng nhịn. Nếu mà không nhịn được nữa thì cô tác ý là tao không muốn chúng mày ở trong nhà phá phách nữa, nếu mà không đi thì tao đập. Xong một đôi ngày đuổi mà nó ko đi thì đành đập thôi.
P/s: Cảnh tùy tâm hiện. Nhà cháu cũng có nuôi một đàn gián và vài con chuột.
Nguyện xin hồi hướng công đức tu hành này tới tất cả Hư không Pháp Giới Chúng Sinh - nguyện xin Đồng Tu Hành Đồng Thành Tựu. Nguyện xin hồi hướng công đức tu hành này tới đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác - nguyện Bất thối chuyển Tâm Vô Thượng Bồ Đề.

demen

Trích dẫn từ: demen trên Th6 17, 2019, 10:24 PM
Trích dẫn từ: brightmoon00 trên Th6 17, 2019, 10:17 AM
Thay đổi cảnh là nó bị như vậy.
Giống như khi chui vào một nơi mới, mình phải  làm quen với lối sống, ngôn ngữ khác hẳn. Vả lại, không  chỉ có thầy mà còn vợ con nữa, tất cả đều phải làm quen. Cho nên, những gia đình đi định cư cả nhà, thời gian đầu hay xáo xào, là chuyện hầu như nhà nào cũng gặp.
BM ơi,
Cách giải thích này cũng đúng cho trường hợp mình chuyển từ chỗ ở cũ sang sang chỗ ở mới phải không?
Nếu vậy, thì trong trường hợp gặp phải này, mình phải làm sao để hòa hợp với chỗ ở mới.
cảm ơn!

Có những người thì khi qua noi có khí hậu khác biệt ( lạnh quá), mải đi làm, mải ổn định cuộc sống; chỉ cần trong 2 năm sức khoẻ xuống hiện lên sắc mặt. Hầu hết đều mắc bệnh đau dạ dày, hoặc phải mổ ruột thừa. Ấy là vì lo lắng quá, sinh bệnh. Qua cảnh mới, cần thời gian để làm quen với tất cả khác biệt, không hối thúc thì sẽ nằm rũ, hối thúc thì sẽ bị ăn vào đường sức khoẻ; nó là muôn mặt của sự đánh đổi phước báu.
BM ơi, Đoạn này nó có đúng với những người chuyển chỗ ở, chuyển nhà ở VN ko ?
N...
Dạ
N...
Dạ
Nhớ 'Kiểm tra tư tưởng liên tục' nhé.
Dạ

brightmoon000

Ở Vn thì ít thôi ạ, vì phong tục vẫn vậy thôi. Vn thì có vd như: cô vợ mới về nhà chồng, ở nơi ở mới, 12 tiếng bị đổi lối sống, 12 tiếng còn lại đi ra ngoài làm việc thì vẫn giữ lối sống cũ vậy thôi.

* Chỉ trừ khi có sự chuyển đổi qua các thời kỳ, thì người ta bị thay đổi, đào lộn tất cả lối suy nghĩ, địa vị, cách sống... Đó là thời kỳ tất cả phải làm lại từ đầu.

TamDao

#18
Kính chào các đạo hữu!

Bài ghi âm có nói về Ngũ Uẩn và sự liên quan của linh hồn với các Uẩn.  TamDao xin trình bày sự hiểu biết của riêng TamDao qua quá trình tham cứu Phật pháp và giáo lý của Hòa thượng Thông Lạc.  Hy vọng góp một chút kiến thức nhỏ nhoi về cấu tạo và sự vận hành của Con người qua lăng kính Phật Giáo Nguyên Thủy.  TamDao chỉ là một người yêu chuộng giáo lý của đức Thích Ca, chưa đủ duyên lành xuất gia buông bỏ hết việc đời.

Thân Tâm con người được cấu tạo bởi Ngũ Uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức).  Năm Uẩn này là guồng máy hoạt động tạo ra suy nghĩ, lời nói, hành động và nhận biết của con người.  Tùy theo trường hợp, những Uẩn này hoạt động hay ngừng nghĩ.  

Ví dụ khi lái xe, tay ga cần nhấn lên nhưng tay thắng ngưng hoạt động, và máy vẫn nổ.  Khi muốn dừng, nhấn tay thắng và tay ga ngừng hoạt động.  Đó là hoạt động bình thường.  Nếu cùng lúc nhấn tay thắng và nhấn tay ga sẽ tạo ra sự ức chế và căng thẳng làm hại thắng hại máy xe.  Ví dụ này có thể mô phỏng một khía cạnh của sự vận hành Ngũ Uẩn.

Hiểu rõ Ngũ Uẩn, Thập Nhị Nhân Duyên,... mới có được căn bản Phật Giáo.  Từ đây, chúng ta có đủ kiến thức phân biệt đâu là Pháp Phật và đâu là Pháp của ngoại đạo.

1.  Sắc Uẩn:  là uẩn duy nhất thuộc về phần vật chất, gồm có Mắt, Tai, Mũi, Miệng, Thân và Ý.  Hay còn gọi là Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và Ý.  Đây là những giác quan (Sáu căn) tiếp nhận với thế giới xung quanh Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, gọi là Sáu Trần, sinh ra Sáu Thức là Cái Biết.  

Ví dụ:  Khi âm thanh (nhĩ trần) gặp lỗ tai (nhĩ căn), chúng ta biết có âm thanh. Cái biết đó gọi là Nhĩ thức.  Khi Mắt (nhãn căn) thấy ngôi sao (nhãn trần) thì biết cái đóm sáng nhỏ trong bầu trời là ngôi sao, là Cái biết của nhãn thức.  Riêng Ý căn là phần não bộ thực hiện chức năng tư duy, suy nghĩ, ghi nhớ và hiểu biết, có sự giới hạn bởi không gian và thời gian, cụ thể là giới hạn bởi thế giới thực tại xung quanh. Ý thức còn gọi là Tri Thức hay Tri Kiến.  

2.  Thọ Uẩn:  là phần cảm nhận (cảm giác) của thân ngũ uẩn, gồm có Thọ lạc, Thọ khổ và Thọ bất lạc bất khổ.  Thọ uẩn hoạt động nơi Sắc uẩn tạo ra những cảm nhận của cơ thể như đau nhức.  Thọ uẩn hoạt động nơi Tưởng uẩn tạo ra những buồn vui, an lạc, sung sướng, tức giận, sợ hãi, lo lắng ...  

3.  Tưởng Uẩn:  là phần vô hình của thân Ngũ uẩn gồm có 33 loại Tưởng khác nhau.  Giấc mơ là ví dụ dễ hiểu để diễn tả một phần của Tưởng Uẩn.  Khi Sắc uẩn (thực tại) ngưng hoạt động, con người mất Ý thức, rơi vào giấc ngủ.  Trong mơ, chúng ta cũng nghe, thấy, biết, ngửi và cảm giác.  Cái biết trong mơ này do Tưởng Uẩn lưu xuất ra, gọi là Tưởng Thức.

Ban ngày, 6 căn của Sắc uẩn hoạt động để tiếp nhận 6 trần.  Sau nhiều giờ hoạt động, Sắc uẩn cần nghỉ ngơi và ngưng hoạt động.  Khi ngưng hoạt động, chúng ta rơi vào giấc ngủ.  Khi đó 6 trần không thể tác động vào chúng ta nữa. Bấy giờ chỉ có Tưởng uẩn hoạt động, nó sẽ phát ra những gì nó ghi nhận, tạo thành giấc mơ.

Ý thức (của Sắc uẩn) và Tưởng thức đều là cái biết, nhưng cái biết này có thì cái biết kia dừng lại.  Đó là hoạt động bình thường.

Tưởng uẩn rất đa dạng và phong phú, có tới 33 loại Tưởng được Hòa thượng Thông Lạc liệt ra trong sách Những Lời Gốc Phật Dạy, Tập 3.  Ví dụ:  Mộng tưởng là "giấc chiêm bao thực hiện qua sự hoạt động của Tưởng uẩn theo tâm trạng thất tình lục dục".  Sắc tưởng là hình ảnh đã xảy ra còn lưu lại từ trường trong không gian được Tưởng uẩn bắt gặp, nhưng cũng có thể là những hình ảnh do Tưởng uẩn trong ta lưu xuất ra như nhà cửa, ánh sáng, hào quang, ma, quỷ, linh hồn, v.v.   Những cảnh giới này được gọi là thế giới của Tưởng Tri, khác với Liễu Tri, là sự hiểu biết chân chánh, không bị Tà pháp, Tà kiến, Tưởng kiến.  

Tưởng tượng có phải là Tưởng uẩn?
 Tưởng tượng là một phần của Tưởng uẩn.  Khi chúng ta tưởng tượng về một gương mặt người bạn học cũ, hình ảnh gương mặt đó chính là Sắc tưởng.  Sắc tưởng này là do Tưởng uẩn ghi nhận từ thời đi học.  Bây giờ chúng ta chủ động nhớ lại gương mặt ấy, sự chủ động này chính là do ý thức (thuộc Sắc uẩn) ra lệnh cho Tưởng uẩn nhớ lại.  Như vậy trí tưởng tượng là do ý thức câu hữu với tưởng uẩn, còn gọi là Ý Thức Tưởng, thuộc Tưởng Uẩn.

Sự khác nhau giữa tưởng tượng và giấc mơ
Khi chúng ta tưởng tượng, sắc uẩn chưa ngưng hoạt động hoàn toàn, do đó chúng ta còn phân biệt được đâu là 6 trần, đâu là 6 tưởng.  Khi 6 căn của Sắc uẩn đóng hoàn toàn thì chúng ta không thể phân biệt được nữa, rơi vào giấc ngủ và Tưởng thức được hoạt động tạo ra giấc mơ.  Người hoang tưởng là người do bị rối loạn giữa Sắc uẩn và Tưởng uẩn nên không phân biệt được đâu là 6 Trần và đâu là 6 Tưởng, dẫn đến tình trạng mắt nhìn vật này lại ra vật kia.  Như nhìn con Mèo lại ra con Cọp, nhìn Nước thành Máu, nhìn chiếc Đủa thành con Dao, hoặc ví dụ Tưởng lưu xuất ra ông Thần Tài, nhưng lại không phân biệt được Tưởng hay Trần nên cứ cho là có thật một ông Thần Tài trước mặt và trò chuyện với ông ta ...

4.  Hành Uẩn: Hành uẩn là những hành động như Khẩu hành, Thân hành, Ý hành.  Nếu thân ngũ uẩn không có hành uẩn thì không thành thân ngũ uẩn mà thành một vật bất động vô tri.  Hành uẩn thường đi kèm với Thọ uẩn.  Ví dụ tay bị phỏng lửa, cảm giác nóng là Thọ uẩn, hành động rụt tay lại là Hành uẩn.  Những hoạt động như tim đập, hít vô, thở ra, lời nói, hành động thiện ác, niệm thiện, niệm ác, ... đều thuộc về Hành uẩn.

5.  Thức Uẩn:  Còn gọi là Cái Biết (Thức), có sự ghi nhớ, nhớ lại vô cùng tận không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.  Đây là Cái Biết của những bậc chứng đắc.

Có 3 Cái biết của thân Ngũ uẩn.  
   - Ý Thức:  Cái biết do sự phân biệt của Nhãn Nhĩ Tỷ Thiệt Thân Ý hàng ngày, thuộc về Sắc Uẩn.
   - Tưởng Thức:  Là Cái biết khi Ý thức ngừng hoạt động, thuộc về Tưởng uẩn.
   - Thức Thức:  là Cái biết của Thức uẩn.  Khi Ý thức và Tưởng thức ngừng nghỉ, thì Thức uẩn được hoạt động, có khả năng đạt được Cái biết siêu thời gian siêu không gian như Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh.  

Thức uẩn đối với người bình thường thì nó đang bất động.  Nếu Ý thức và Tưởng thức chưa ngưng nghỉ thì Thức thức không bao giờ hoạt động được.  Muốn Thức uẩn hoạt động, phải nhập xong Tứ thiền, là nơi Ý thức và Tưởng thức được ngưng nghỉ nhường chỗ cho Thức uẩn hoạt động.

Trên đây là sơ lược sự hoạt động của Ngũ uẩn.  Tuy là 5 uẩn, nhưng không phải 5 uẩn hoạt động cùng lúc.  Khi ngủ, chỉ có Tưởng uẩn, Thọ uẩn và Hành uẩn hoạt động.  Trong sinh hoạt hàng ngày thì Sắc uẩn, Thọ uẩn, Hành uẩn hoạt động, và có sự chen vào của Tưởng uẩn.  Ví dụ đang chăm chú học bài nhưng đôi khi cũng ngừng Ý thức để mơ tưởng (Tưởng uẩn) về cô bạn học.  

Con người là do năm duyên hợp thành gọi là thân Ngũ uẩn.  Khi chết, năm uẩn này tan rã, thân tứ đại này trở về cát bụi.  Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều tan biến và hoại diệt như có nói trong Kinh Thiên Uẩn, Tương Ưng Bộ - Tập III, Chương I: Tương Ưng Uẩn.  

Năm duyên hợp thành là duyên nhân quả sanh ra con người.  Sống trong nhân quả, và khi chết chỉ còn lại nhân quả, tiếp tục tái sanh theo duyên nhân quả đã tạo.  Chính vì điều này mà Hòa thượng Thông Lạc nói rằng:  không có linh hồn sau khi chết.  Xuyên suốt những bộ Kinh Nguyên Thủy của Đức Phật, không có một Kinh nào dạy về những  những chuyện Cầu an, Cầu siêu, Độ tử,...  Nếu có những phương tiện dễ dàng như vậy, Đức Phật hẳn đã vận dụng và lưu truyền cho hậu thế sau này.

Cận Tử Nghiệp
Con người bình thường hoạt động trong thế giới hữu hình bằng Sắc thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý).  Hoạt động trong thế giới vô hình bằng Tưởng thức.  Khi Sắc thức ngưng hoạt động, thì Tưởng thức hoạt động, sinh ra giấc mơ.  Khi một hay vài bộ phận cơ thể (như tim, gan, thận, phổi,..) ngừng hoạt động và xem như là chết, thì Sắc thức ngưng hoạt động và Tưởng thức được hoạt động tạo ra giấc chiêm bao mà mọi người gọi đó là Cận tử nghiệp.

Giấc chiêm bao này có thể hiện ra theo những gì người này hay sinh hoạt trong cuộc đời, như mong ước gặp Phật, thấy hào quang, ánh sáng, thấy cỏi Cực lạc tây phương,...  Còn những người không có tôn giáo thì có thể thấy theo sự danh lợi, tình yêu, thương ghét, thù hận, sợ hãi,....  Một vài trường hợp bệnh nhân sống lại khi đang trải qua giấc mơ này, và kể lại giấc mơ trong lúc thập tử nhất sinh, nên gọi là Cận tử nghiệp.  Nếu qua luôn trạng thái chết lâm sàng và chết thật luôn, thì Tưởng uẩn cũng hoại diệt, giấc mơ kết thúc, và cả các Uẩn khác cũng đều tan rả.  Con người không còn gì tồn tại ngoài Nhân quả và nghiệp lực để tiếp tục luân hồi.

Kính.


Tibu

Vấn đề làm mình có làm được hay chưa?
Nếu chưa: thì lo làm. Làm xong rồi hẳn nói.
Ý thứ nhất là, tibu nhắc lại cách vào sơ thiền của Đức Phật Thích Ca:

Ngài chỉ cần dùng hơi thở mà Ngài có thể vào được Sơ Thiền.

Ý thứ nhì là: Tibu không có hề... nhập định kể cả Tà Định... lẫn Chánh Định, mà chỉ lo đi giúp người. Khi làm cho ra hồn chuyện giúp người này rồi, thì tibu nhận thấy rằng:

Đường vào Chân Lý có rất nhiều cách đi!

Nhưng cách, mà Thầy Thông Lạc chê là cách của Bà La Môn, thì... thật ra là cách dể đi nhất.

TamDao

#20
Trích dẫn từ: Tibu trên Th7 06, 2019, 08:37 AM
Vấn đề làm mình có làm được hay chưa?
Nếu chưa: thì lo làm. Làm xong rồi hẳn nói.
Ý thứ nhất là, tibu nhắc lại cách vào sơ thiền của Đức Phật Thích Ca:

Ngài chỉ cần dùng hơi thở mà Ngài có thể vào được Sơ Thiền.

Ý thứ nhì là: Tibu không có hề... nhập định kể cả Tà Định... lẫn Chánh Định, mà chỉ lo đi giúp người. Khi làm cho ra hồn chuyện giúp người này rồi, thì tibu nhận thấy rằng:

Đường vào Chân Lý có rất nhiều cách đi!

Nhưng cách, mà Thầy Thông Lạc chê là cách của Bà La Môn, thì... thật ra là cách dể đi nhất.


Kính chào Thầy Tibu!

Giáo lý của Phật Thích ca thật là vi diệu.  Những gì Đức Phật dạy cho chúng ta không thừa không thiếu.  Giáo lý của Ngài luôn luôn cảnh giác chúng ta không đi lầm vào con đường Ngoại đạo của Bà La Môn.  Do vậy, là phật tử cư sĩ của Ngài, chúng ta nên hiểu rõ giáo lý Phật pháp để hiểu rõ ràng chỗ nào là ngoại đạo và chỗ nào là Phật pháp.  Nếu lỡ sai một ly thực hành sai pháp thì uổn phí cả một đời tu hành, thật uổn phí biếc bao!

TamDao xin trình bày sự vận hành của Ngũ uẩn qua các Tầng thiền để làm rõ về giáo lý căn bản của Phật Thích ca.

Sơ Thiền:  

Do ly dục ly bất thiện pháp và xả tâm (xả bỏ Tham Sân Si), như bài Kinh Song Tầm dạy: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung19.htm, tu sĩ vào được Sơ Thiền với tâm thanh tịnh chỉ còn 5 chi:  Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất Tâm.  Tại đây, Ý Thức vẫn còn hoạt động duy trì Tầm Tứ, tức là trạng thái thanh tịnh và hỷ lạc do ly dục nhưng vẫn còn hiện diện của 6 thức (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và Ý).  Do còn sự hiện diện của 6 thức, nên Đức Phật dạy Tiếng ồn là cây gai của Sơ thiền (Tăng chi bộ - phẩm Ước nguyện - mục Cây gai: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi10-0709.htm).

Ly dục ly bất thiện pháp là quá trình học hiểu về Giới luật, xả tâm, quét dọn Tham Sân Si, là quá trình tu học và thực tập Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn và Chánh Niệm.  

Ví dụ ham thích muốn được chiếc xe SH, nên phải lo lắng kiếm thêm tiền.  Quá trình phấn đấu và tranh đấu có thêm tiền cũng mang nhiều mệt nhọc, lo toan, và đôi khi là khổ sở.  Nếu xả bỏ tâm ham thích chiếc xe SH này, thì không phải lo lắng cực khổ trước sau.  Như vậy đã buông bỏ một chuyện Tham trong sinh hoạt hàng ngày.  Càng xả bỏ, buông bỏ nhiều, thì càng nhẹ nhàng, thân tâm càng thanh tịnh.  

Chánh Niệm là phương pháp Ngăn ác Diệt ác, Sanh Thiện tăng trưởng Thiện.  Chánh Niệm không phải là Niệm Phật, Niệm Chú như một số Kinh Đại thừa chỉ dạy.  Vì thời Đức Phật không có pháp môn Niệm Phật.  Niệm Phật là môn được viết ra sau này, truyền vào nước ta từ Trung hoa, trong khi đó Kinh văn Đại thừa lại cho rằng Phật Thích Ca thuyết pháp môn Niệm Phật.  Đây là những sự mờ ảo không chân chánh và mâu thuẩn thời gian lịch sử của Kinh Đại thừa.  

Sau cùng mới tới Chánh Định là sự im lặng, bất động của thân tâm, là cách Tịnh Chỉ các hành trong thân Ngũ Uẩn để vào các tầng Thiền, đoạn tận các Lậu đạt được Tuệ Tam Minh, là Trí Tuệ của bậc Vô lậu A La Hán.

Trải qua giai đoạn tu tập ly dục ly ác pháp nhuần nhuyễn thì mới tập vào Sơ Thiền.  Nếu tâm chưa ly dục ly ác pháp mà tu tập Tịnh Tướng (niệm hay định trên một đề mục) thì đó là Ức chế tâm, là cách ép tâm vào Sơ thiền.  Cũng tạm thời ly dục ly ác pháp trong lúc hành thiền, nhưng khi hết thiền thì Tham sân si vẫn còn y nguyên.  

Nhị Thiền:

Kinh dạy Diệt Tầm Tứ mới vào được Nhị thiền.  Lúc này tâm chỉ còn Hỷ, Lạc, và Nhất tâm.  Diệt tầm tứ là lìa Sắc uẩn, là mắt, tai, mũi, miệng, thân và ý đều ngưng nghỉ, giống như người đang ngủ.  Cái biết tựa như cái biết trong trạng thái chiêm bao.  Đó là cái biết của Tưởng thức.  Nếu còn có Ý thức phân biệt, nhĩ thức nghe, nhãn thức thấy... thì không vào được Nhị thiền, nên Đức Phật dạy rằng: "Với người chứng Thiền Thứ hai, tầm tứ là cây gai" (Tăng Bộ Kinh - phẩm Ước Nguyện - mục Cây Gai).  Nhị thiền thì Ý thức ngừng nghỉ nhường cho Tưởng thức hoạt động với cái biết là Hỷ, Lạc, và Nhất tâm.  

Giấc mơ khác với Nhị thiền như thế nào?
Ban ngày do 6 căn (mắt, tai, mũi, miệng, thân và ý) làm việc mệt mỏi, đêm về 6 căn cần nghỉ ngơi.  Sự nghỉ ngơi này được cơ thể ngừng Ý thức (không Tầm Tứ), nhường cho Tưởng thức được hoạt động lưu xuất ra giấc mơ.  Giấc mơ này còn đầy Tham Sân Si nên có thể thấy những gì Tưởng uẩn ham thích mơ mộng.  Trạng thái giấc mơ gần giống như Nhị thiền, nhưng trạng thái Nhị thiền là một trạng thái thanh tịnh, và tâm không thể mơ lộn xộn nữa mà chỉ còn Hỷ, Lạc, và Nhất tâm qua Cái biết của Tưởng thức.

Có thể nói quá trình đi vào giấc mơ là sự diệt Tầm Tứ một cách thụ động do sự cần nghỉ ngơi của 6 căn.  Còn Nhị thiền là diệt Tầm Tứ chủ động qua quá trình tu học và thanh tịnh của ly dục ly bất thiện pháp.  Giấc mơ và Nhị thiền có điểm chung là Ý thức ngừng hoạt động nhường cho Tưởng thức hoạt động, tức thâm nhập vào thế giới Tưởng.

Nếu tâm chưa ly dục ly ác pháp mà chủ động đóng 6 căn qua sự chăm chú nắn nót trên một Tịnh Tướng hay Câu Niệm, tức là ức chế Ý thức hưng phấn Tưởng thức, hành giả dễ rơi vào trạng thái Xúc Tưởng hỷ lạc, thấy ánh sáng hào quang, thấy chư Phật tổ, ma quỷ, cảnh giới, v.v.   Đây là những trạng thái đa dạng của Tưởng uẩn tạo ra mà Hòa thượng Thông Lạc có nhắc đến sự nguy hiểm của 6 loại tưởng đầu tiên trong sách Đường Về Xứ Phật - Tập 2.

Nếu hành giả cứ tập Ức chế Ý thức và đắm chìm trong thế giới Tưởng lâu dài cho đến khi Ý thức không còn hoạt động bình thường nữa thì người ấy có khả năng bị bệnh rối loạn thần kinh và rối loạn một số chức năng của cơ thể.  Tức là 6 thức bị tê liệt và không phân biệt đâu là Tưởng đâu là 6 trần nữa.  Ví dụ Tưởng uẩn lưu xuất ra cảnh đang bị người khác rượt đánh, nhưng vì không phân biệt được đâu là Tưởng hay Trần nên cứ nghĩ là có người rượt đánh thật, rồi bỏ chạy la hét như người điên.  Hoặc mắt nhìn thấy vật này nhưng lại ra vật khác.

Giải thích chi tiết hơn là do Ức chế Ý thức quá nhiều và trú trong thế giới Tưởng liên tục ngày lẫn đêm nên các căn nào không có dịp hoạt động sẽ yếu đi.  Nếu Ý căn suốt ngày chăm chút và nắn nót trên một Tịnh tướng hay Câu niệm thì Ý căn sẽ không có cơ hội hoạt động bình thường theo chức năng suy tư, phân biệt, và suy nghĩ của nó.  Vì vậy biểu hiện đầu tiên của sự tê liệt Ý căn là khó suy nghĩ logic được.  Nó yếu đi vì cái gì không hoạt động thì sẽ từ từ mất đi chức năng vốn có.  

Tiếp theo, nếu duy trì sự quán tưởng trên một Tịnh tướng và Câu niệm liên tục, Nhãn (mắt) và Nhĩ (tai) căn không được hoạt động bình thường sẽ yếu luôn, khi đó tu sĩ sẽ không phân biệt đâu là Sắc tưởng, đâu là Sắc trần nữa.  Đến khi 6 căn dần dần tiêu biến, khi mà không thể phục hồi được nữa, là lúc thành người điên hoàn toàn.  

Ví dụ thời trước khi chưa có điện thoại thông minh, Số lượng người bị đeo kính không nhiều như bây giờ.  Ngày nay, do ham thích dùng phone, đôi mắt cứ chăm chú vào chiếc phone và ít hoạt động đôi mắt nhìn vào những chuyện khác như nhìn trời nhìn sao, thay đổi sự điều tiết của mắt trong sinh hoạt hàng ngày, nên nhiều người bị bệnh rối loạn mắt và phải đeo kính nhiều hơn thời trước.  Hoặc nếu ngủ 1 ngày 8 tiếng là tốt, nhưng nếu uống thuốc và ngủ liên tục 3, 4 ngày thì người này sẽ có những biểu hiện chậm chạp không hoạt bát nữa.  Đó là biểu hiện của căn nào không được hoạt động bình thường thì sẽ yếu đi.

Kính.

Tibu

#21
Một bên là tibu làm và... coi kinh nói cái gì, và còn cách nào làm hay hơn?
Còn bên kia TamDao lại chỉ chép lại kinh. Chưa đưa ra được khía cạnh thực hành của mình.

Làm cách này, thì tibu nhớ lại vào thời Đức Phật, khi ngài nhập Niết Bàn xong thì tăng đoàn trốn biệt trong rừng! Lý do là các người cứng cựa lần hồi chết hết! Phần còn lại, không thể nào trả lời được những câu hỏi của các bà con hiện đang tu một cách khác!

Dẫn đến phân chia đủ thứ pháp môn, đủ thứ quan niệm...
Tất nhiên đó là chuyện cũ và xa xưa rồi, lâu lắm rồi!

Thực tế:

Tưởng là xưa... nhưng ngay trong Tăng Đoàn của Thầy Thông Lạc: cho tới nay, chưa có ai thành công. Không những vậy mà ngay trong tăng đoàn đã có sự rạng nứt, dẫn đến tình trạng chia đôi!

Bây giờ, không lo xây dựng mà còn duy trì... tình trạng: dẫn kinh thì phải nói là quá yếu.

Ý của tibu là không có chê.
Nhưng chỉ nhắc lại:
Khi Thầy Thông Lạc nói về cái thức: thì Thầy nói là khi mớ mắt ra thì thấy cái phòng này với các sinh hoạt của nó.

Và nói đến cái Trí hay cái Giác thì Thầy nói rộng ra: ý là chuyện gì đang xảy ra chung quanh chỗ này, như là bà kia đang gặp chuyện khó sử như vầy... như kia!

Làm được như vậy thì mới gọi là tu đã xong.
========
Còn nếu đụng đến: thức thì lục sách ra coi... Trí thì nhai lại trong sách thì gọi: đó là tu chưa xong.
Và hể mà tình trạng này vẫn xảy ra! Thì lo tu cho nó xong.


bongsen

Thầy Tibu cho con hỏi...
Con có thấy 1 bạn sưu tầm cái lịch sử thuyết pháp của Phật Thích Ca ngày xưa..
Nhưng thật sự chưa thỏa được thắc mắc của con là dữ kiện đó có thật chỉ là ngẫu nhiên hay là do sau này sau khi Ngài nhập niết bàn thì người ta đối đế để sắp xếp lại cho tiện theo dõi hơn thôi ạ?!

Ví dụ sau này có ai đó cũng làm chuyện này vơi hstđ tỷ như bao nhiêu năm Thầy dạy về Thiền, sau đó bao nhiêu năm vè Tịnh, mật, v.v...

Hay lúc Ngài còn sống thuyết pháp là không phân chia theo kiểu đó..mà chỉ là tùy căn cơ.... Vì khi chúng con nghe đến thời Mạt pháp thì cũng lo sợ lắm..Dạ con cáo chình ạ..hihi


Tibu

Trích dẫn từ: bongsen trên Th7 06, 2019, 01:04 PM
Thầy Tibu cho con hỏi...
Con có thấy 1 bạn sưu tầm cái lịch sử thuyết pháp của Phật Thích Ca ngày xưa..
Nhưng thật sự chưa thỏa được thắc mắc của con là dữ kiện đó có thật chỉ là ngẫu nhiên hay là do sau này sau khi Ngài nhập niết bàn thì người ta đối đế để sắp xếp lại cho tiện theo dõi hơn thôi ạ?!

Ví dụ sau này có ai đó cũng làm chuyện này vơi hstđ tỷ như bao nhiêu năm Thầy dạy về Thiền, sau đó bao nhiêu năm vè Tịnh, mật, v.v...

Hay lúc Ngài còn sống thuyết pháp là không phân chia theo kiểu đó..mà chỉ là tùy căn cơ.... Vì khi chúng con nghe đến thời Mạt pháp thì cũng lo sợ lắm..Dạ con cáo chình ạ..hihi
Muốn tìm cái gì cho chắc ăn, một cách độc lập: nên
1. Dợt cho ra lẻ, không có vấn đề nói chuyện như bongsen.
2. Thâm nhập được Trí Tuệ của Đức Bổn Sư
3. Từ đó Sửa sai, hoặc là làm gì gì đi nữa... vẫn cứ "không sợ sai"

Ngược lại: Chỉ lo "đọc vẹt" thì không làm ăn gì được hết.

Tất nhiên, chuyện tu hành mà coi thành chuyện "tanh hù" thì nó không ra gì là cái chắc.

Thậm chí:
Hể mà đụng tới cái... Mỏ thì cứ việc "bỏ";
Hể mà đụng tới... chuông thì cứ việc "buông" ...

Cho dù:

Dẫn đến tình trạng công khai hoặc là lén lút Xả Rác (do hai chữ buông và bỏ) thì cũng không bao giờ được Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến.

TamDao

Cho TamDao trình bày tiếp 2 thiền chi còn lại trước khi trở lại đàm đạo.

Tam Thiền:
"Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là "xả niệm lạc trú", chứng và trú Thiền thứ ba." (Trung Bộ Kinh Tập I, Phẩm 39: Đại Kinh Xóm Ngựa, https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung39.htm ).  Muốn nhập Tam thiền, hành giả phải ly các trạng thái Hỷ.  Hỷ ở đây là Hỷ Tưởng, gồm 18 loại Hỷ tưởng được Hòa thượng Thông Lạc liệt ra trong quyển Những Lời Gốc Phật Dạy Tập 3.  Xả các Hỷ Tưởng này tức là thoát ra khỏi thế giới mộng tưởng. 

Ly dục ly ác pháp tức là không tạo nghiệp thiện ác mới, làm cho Thân Khẩu Ý thanh tịnh.  Còn ly Hỷ tưởng tức là lìa nghiệp thiện ác cũ.  Ngoài ra còn có thể làm chủ thân bệnh.  Bệnh tật là do Tưởng sanh bệnh, vì thế khi nhập Tam thiền đã ly Tưởng và không dao động trước các cảm thọ, nên dễ dàng xả Thọ khổ, làm chủ thân bệnh bằng thiền Định. 

Tứ Thiền:
  "Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh." (Trung Bộ Kinh Tập I, Phẩm 39: Đại Kinh Xóm Ngựa).  Xả lạc xả khổ là xả Thọ uẩn.  Lìa hết các cảm Thọ và cả hơi thở cũng được tịnh chỉ thì mới vào được Tứ thiền.  Do đó Đức Phật có dạy "Với người chứng Thiền thứ tư, hơi thở là cây gai" (Tăng chi bộ - phẩm Ước nguyện - mục Cây gai).
 
Ở Tứ thiền, Ý thức và Tưởng thức đã được ngưng nghỉ, nhường sự hoạt động cho Thức thức (Thức uẩn), là Cái biết vô cùng tận, không bị giới hạn bởi thời gian và không gian.  Tu sĩ có thể đánh thức Thức uẩn để triển khai Trí tuệ Tam Minh và diệt trừ các mầm mống Lậu hoặc đạt đạo quả của bậc Vô Lậu A La Hán.

Bên trên là sơ lược về sự vận hành của các uẩn qua các tầng thiền trong cái hiểu hạn hẹp của TamDao.  Có thể nói Tứ Thánh Định và Tam Minh là kết quả của sự tu tập Giới Định Tuệ.  Sơ thiền thuộc về Giới ly dục ly bất thiện pháp.  Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền thuộc về Định, còn Tam Minh thuộc về Tuệ.

Quá trình Ly dục ly bất thiện pháp phải có trước thì mới vào được Sơ Thiền.  Nếu chưa qua quá trình này mà ép tâm để được Ly dục ly bất thiện pháp thì rất nguy hiểm cho con đường tu tập.  Qui trình này cũng được chỉ rõ ràng từng bước trong bài kinh Trung Bộ Kinh Tập I, Phẩm 39: Đại Kinh Xóm Ngựa:  Từ Giới hạnh, Hộ trì các căn, ... cho đến Chánh niệm tỉnh giác, Đoạn trừ các triền cái, rồi sau cùng mới tới cách nhập định 4 thiền và Tam minh. 

Tóm lại, Ly dục ly ác pháp trước rồi mới Thiền định.  Không nên Thiền Định rồi mới có ly dục ly ác pháp.

lengoctao27

Cho đến giờ phút này mà các ngài chưa hiểu thế nào là tu hành thì hết nước nói !!!Nói như Ticien "finir l'eau dire " !!!
Cứ lo nhìn trước nhìn sau,ngó bên này ngó bên kia;rồi đọc kinh,chép kinh,trích dẩn ...etc ...
Cám ơn mông xừ Th. nhiều !!!

nhà binh

NB có một công thức làm về món creme brulee học được từ một nhà hàng Nhật tên Kimono ở Quebec Canada như sau:
Vật liệu:
Cam 10 trái bào lấy vỏ
Lòng đỏ trứng gà 5 cúp
Sữa whole milk 5 cúp
Heavy whipping cream 5 cúp
Đường cát trắng 5 cúp
Gelatin 2 lá
Cách làm:
Sữa whole milk đung nóng cùng với heavy whip cream; cho vỏ cam, đường và lòng đỏ trứng vào. Dùng đồ đánh trứng khoáy đều tay.
Chú ý quan trọng: không được cho hổn hợp bị sôi bọt.
Sau khi đường tan, cho Gelatin vào, giữ lữa tầm thêm 5 phút sau đó tắc bếp.
Cho hỗn hợp ra chum nhỏ, xếp vào khây có nước (kiểu chưng cách thuỷ).
Cho khây vào lò nước ở 250 độ C, nướng trong vòng 30 phút.
Sau đó lấy ra, để nguội rồi giữ trong tủ lạnh tầm 4 giờ thì ăn được.
Hết.

Mở ngoặc

Đọc tới đây thì mình có Creme Brulee để ăn không ?
Hay bàn bạc, trao đổi kiến thức rồi sẽ có creme Brulee ăn ?
Hay tham khảo thêm công thức của đầu bếp 5 sao khác rồi sẽ có creme brulee ăn ?
Hay ... hay ... đọc thôi thì thấy ngon rồi?

Đóng ngoặc

Muốn ăn thì lăng vào bếp, Ông Tibu đã đang ăn xong trong bếp, NB cũng đang cố gắng ăn theo !




"nhà binh nhìn Ba, cạo đầu cầu đạo"

TamDao

#27
Trích dẫn từ: Tibu trên Th7 06, 2019, 12:28 PM
Một bên là tibu làm và... coi kinh nói cái gì, và còn cách nào làm hay hơn?
Còn bên kia TamDao lại chỉ chép lại kinh. Chưa đưa ra được khía cạnh thực hành của mình.

Làm cách này, thì tibu nhớ lại vào thời Đức Phật, khi ngài nhập Niết Bàn xong thì tăng đoàn trốn biệt trong rừng! Lý do là các người cứng cựa lần hồi chết hết! Phần còn lại, không thể nào trả lời được những câu hỏi của các bà con hiện đang tu một cách khác!

Dẫn đến phân chia đủ thứ pháp môn, đủ thứ quan niệm...
Tất nhiên đó là chuyện cũ và xa xưa rồi, lâu lắm rồi!

Thực tế:

Tưởng là xưa... nhưng ngay trong Tăng Đoàn của Thầy Thông Lạc: cho tới nay, chưa có ai thành công. Không những vậy mà ngay trong tăng đoàn đã có sự rạng nứt, dẫn đến tình trạng chia đôi!

Bây giờ, không lo xây dựng mà còn duy trì... tình trạng: dẫn kinh thì phải nói là quá yếu.

Ý của tibu là không có chê.
Nhưng chỉ nhắc lại:
Khi Thầy Thông Lạc nói về cái thức: thì Thầy nói là khi mớ mắt ra thì thấy cái phòng này với các sinh hoạt của nó.

Và nói đến cái Trí hay cái Giác thì Thầy nói rộng ra: ý là chuyện gì đang xảy ra chung quanh chỗ này, như là bà kia đang gặp chuyện khó sử như vầy... như kia!

Làm được như vậy thì mới gọi là tu đã xong.
========
Còn nếu đụng đến: thức thì lục sách ra coi... Trí thì nhai lại trong sách thì gọi: đó là tu chưa xong.
Và hể mà tình trạng này vẫn xảy ra! Thì lo tu cho nó xong.


Khi Đức Phật nhập Niết bàn, lời Ngài dạy là khuyên chúng ta nên lấy Giáo pháp của ngài làm Thầy.  Không lẽ Phật đã biết trước những pháp môn Bà La Môn ngoại đạo sẽ tiêu hủy đạo Phật.  Đến bây giờ, đạo Phật ở Ấn độ chỉ chiếm một con số khiên tốn chưa tới 1%.  

Do chúng ta đọc Kinh nhưng chẳng hiểu Kinh nói gì, rồi tự cho đó là quá cao siêu khó hiểu và không chịu tìm hiểu.  Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức là những điều rất căn bản của Đạo Phật, nhưng mấy ai hiểu một cách rõ ràng hoặc nhiều khi còn chưa biết Ngũ uẩn là gì, mặc dù Kinh Nguyên Thủy có nguyên một chương nói về điều này.  

Nếu cứ nghe đồn người này người kia chứng đắc, biết chuyện quá khứ tương lai, tiền kiếp rồi tin theo một cách mù quáng, mà chẳng đối chiếu Kinh sách, chẳng tự thắp đuốc soi rõ con đường Bát Chánh Đạo mà Đức Phật nói rất nhiều trong Bộ Tạng Kinh Nguyên Thủy.  Đây là điều đáng buồn của Đạo Phật ngày nay.  Vô tình chúng ta biến Đạo Phật thành Đạo Bà La Môn ngoại đạo.

Thầy Tibu cứ nói là tu xong rồi mới nói thì chẳng khác nào ngăn chặn tiếng nói của những người đang tầm đạo và sẽ không có sự đàm đạo công bằng trên tinh thần nghiên cứu Phật Pháp.  Trong khi Giáo pháp của Đức Phật vẫn còn rõ ràng để đối chiếu và so sánh.  Đó là chưa kể nếu phương pháp tu sai lạc vào thế giới Tưởng như lạc vào các cảnh giới, có sự Hỷ Lạc do các Xúc Tưởng tạo ra, hoặc có những Thần thông Tưởng lúc có lúc không nên cứ tưởng là đắc đạo Giải thoát thì thật uổn phí đường tu.  

Những bài ghi âm trong phần Rong-Rêu đều mang tính chất xâm nhập vào những thế giới siêu hình và sư đi tới đi luôn của Linh hồn tới những cảnh giới trừu tượng, đều trái ngược với Giáo Lý Phật Giáo Nguyên Thủy, mà Hòa thượng Thông Lạc đã cảnh báo về thế giới Tưởng do tu tập sai Pháp mà có.  Đây là ý kiến riêng của TamDao.  Thầy Tibu có thể đối chiếu lại bộ Kinh Nguyên Thủy và kiểm tra lại những thế giới này là gì.  

Nếu cứ nghe đâu tu đó cho đến khi lạc vào thế giới Tưởng, tham sân si tạm thời đè nén, nhưng khi có cơ hội thì lại bộc phát chẳng thua gì người chưa tu.  Đó là chưa kể, sự rối loại của Sắc uẩn và Tưởng uẩn, làm cho người tu tập có thể bị rối loạn thần kinh và một số chức năng của cơ thể, gây ra bệnh tật đau yếu.  Vậy có nên chăng khi tu đại không chịu tìm hiểu cho rõ Giáo lý Phật pháp?

Những gì TamDao trình bày là kiến thức học hỏi và nghiên cứu không dễ gì có được.  Những dẫn chứng từ Kinh Nguyên Thủy để chứng tỏ đó là Lời Phật Dạy rất rõ ràng.  Hy vọng chúng ta không biến Giáo lý siêu việt Phật pháp thành những pháp môn Ngoại đạo.

Kính.

TamDao

Trích dẫn từ: Tibu trên Th7 06, 2019, 08:37 AM
Vấn đề làm mình có làm được hay chưa?
Nếu chưa: thì lo làm. Làm xong rồi hẳn nói.
Ý thứ nhất là, tibu nhắc lại cách vào sơ thiền của Đức Phật Thích Ca:

Ngài chỉ cần dùng hơi thở mà Ngài có thể vào được Sơ Thiền.

Ý thứ nhì là: Tibu không có hề... nhập định kể cả Tà Định... lẫn Chánh Định, mà chỉ lo đi giúp người. Khi làm cho ra hồn chuyện giúp người này rồi, thì tibu nhận thấy rằng:

Đường vào Chân Lý có rất nhiều cách đi!

Nhưng cách, mà Thầy Thông Lạc chê là cách của Bà La Môn, thì... thật ra là cách dể đi nhất.


Cách của Bà La Môn dễ đi vì cách này đã bỏ qua phần tu tập Ly Dục Ly Bất Thiện Pháp mà vào tập liền, gom tâm vào Câu Niệm hay Một Tịnh Tướng.  Tâm chưa xả bỏ chưa ly dục mà ép tâm để được ly dục ly bất thiện pháp nhất thời nên khi cố gắng đóng 6 căn lại, thì Tưởng thức hoạt động với tâm vẫn còn đầy đủ Tham Sân Si, hành giả lạc vào thế giới Tưởng rất dễ dàng, mà người tu cứ tưởng là chứng đạo.

Nếu cách Bà La Môn dễ tu nhất, Phật Thích Ca đã chỉ con đường dễ đi này cho hậu thế.  Vì chính Phật Thích Ca cũng từng tu tập với Ngoại đạo nhiều năm.  

TamDao

#29
Trích dẫn từ: khanhkhoa trên Th7 06, 2019, 08:05 PM
Nếu nói Diệt Tầm Tứ thì vào Nhị Thiền, nhưng trên trang chủ  https://www.hoasentrenda.com/fp/phuong-phap/nhu-lai-thien/huu-sac-vo-sac-diet-tho-tuong-dinh-1137 có đoạn:  Nhị thiền chỉ là Diệt Tầm và vẫn còn Tứ.  Tầm là kiếm đề mục.  Tứ là giữ đề mục.  Tại sao lại có sự khác biệt như vậy?

Tam Thiền và Tứ  Thiền đã không có Tầm Tứ, nhưng tại sao vẫn giữ đề mục lên tới 70 giây?  Không phải giữ đề mục là Tứ sao?  Còn Tứ thì làm sao vào được Tứ Thiền?  Huynh Tibu và huynh TamDao có cao kiến gì chia sẽ cho bà con học hỏi.


Chào đạo hữu Khanh Khoa,

Tầm là suy tư, suy nghĩ.  Tứ là ý tứ, tác ý ra. Tầm Tứ là sự tác ý và sự tư duy, suy nghĩ của Ý Thức, thuộc về Sắc uẩn. Đạo hữu có thể đọc bài Kinh Song Tầm: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung19.htm để hiểu rõ nghĩa của Tầm Tứ.

Do Ly dục ly ác pháp, hành giả vào được Sơ thiền có năm chi:  Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, và Nhất Tâm.  Ở đây vẫn còn sự Tác ý (của Ý thức thuộc Sắc uẩn) để ngăn ác tăng thiện.  Sau khi đã nhu nhuyễn và thanh tịnh, Tầm Tứ được diệt, hành giả vào Nhị thiền, không còn Tầm tứ nữa, tức là không còn sự hiện diện của Ý thức nữa, trạng thái như người đang mơ.  Nếu hành giả vẫn còn Tầm hay Tứ, tức là còn sự hiện diện của Sắc uẩn thì không thể vào Nhị thiền được.

Đạo hữu có thể đọc toàn bộ công thức từ thấp đến cao ở đây:
Trung Bộ Kinh Tập I, Phẩm 39: Đại Kinh Xóm Ngựa, https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung39.htm

Còn vào nhị thiền mà vẫn duy trì đề mục bao nhiêu giây, bao nhiêu phút, thì TamDao chưa thấy trong cuốn Kinh Nguyên Thủy nào nói đến.  Đạo hữu có thể tìm giúp TamDao bài kinh nói về đề tài này, rồi chúng ta tiếp tục đàm đạo.

Kính