Tin tức:

Kiểm tra các đường link fp ở smf

Dẫn Nhập Giả Thuyết về Thiền Định

Bắt đầu bởi CTR, Th6 22, 2012, 02:05 AM

Chủ đề trước - Chủ đề tiếp theo

hstd

Những đàm luận về đề tài: QUESTION de DIEU - Vấn đề Thượng Đế
Xin nhấp chuột vào đây:

https://www.hoasentrenda.com/smf/index.php?topic=9359.0

CTR

#16



         & Giả Thuyết mô hình chuẩn của một tập hợp TÂM bất kỳ


Chúng ta quy ước, chọn một đối tượng bất kỳ là tâm "Yêu", ở trạng thái danh từ, động từ ... Sở dĩ chúng ta chọn đối tượng này vì nó mang tính chất phổ quát và biểu tượng. Mặt khác, Vi Diệu Pháp cho tâm yêu là sợi dây đưa chúng sanh đến luân hồi. Nói tóm lại, đây là một tâm quan trọng.

QUAN SÁT THỰC TẾ

1. Tự quan sát chính mình: Ai cũng có thể quan sát chính mình để tự nhận ra rằng, chúng ta có thể yêu, ghét nhiều đối tượng một lúc. Hiệu ứng này, nếu được ghi lại trên tấm giấy trắng, một tâm yêu ghét được biểu tượng một chấm đen, những chấm đen trên giấy dự kiến sẽ mang tính chất nhiễu xạ. Tất nhiên đây là một tiên đoán bằng lý thuyết.

2. Quan sát hiện tượng khách quan: Thông tin đại chúng cho ta biết, Trung Đông là nơi mà người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ. Ở Trung Quốc, theo lịch sử ghi lại thì Tần Thủy Hoàng có nhiều ngàn cung tần mỹ nữ trong tam cung lục viện. Tâm yêu là một trong vô số các loại tâm. Nếu căn cứ vào 2 nhận xét trên, thì dường như tâm yêu không phải là một khối duy nhất không thể phân chia được. Nếu không thể phân chia, thì rõ ràng người ta không thể yêu hay ghét nhiều người cùng một lúc. Như vậy, tâm yêu phải được cấu tạo bởi nhiều thành phần rất nhỏ. Có thể chúng mang tính chất lượng tử, nghĩa là những năng lượng đứt đoạn, chứ không phải liền lạc với nhau như một khối. Những từ ngữ nói trên gợi ý chúng ta liên tưởng đến một từ ngữ rất quen thuộc của vật lý lượng tử: hạt cơ bản (Elementary particle).
 
   a. Tính chất đặc thù của tâm
     - Tâm mang điện tích sinh học là âm (–) hoặc dương (+) (quy ước)
     - Tâm luôn vận động không ngừng
        Để đơn giản có lẽ nên chia ra 2 loại tâm là Thiện và không Thiện ở tất cả các cảnh, các cõi, trừ Niết Bàn.
     - Niết Bàn có một loại yếu tố tâm gọi là SANTI (An Tịnh) và chỉ có một tâm này mà thôi, SANTI ở ngoài thế giới của tâm, sắc và ngũ uẩn (theo tài liệu Vi Diệu Pháp trang 32)

   b. Số lượng tâm
     - Thực tế số lượng tâm lớn hơn rất nhiều so với các bảng thống kê của những tài liệu VDP, điều này ai cũng có thể tự kiểm chứng.

3. Quy luật tương tác của tâm: Theo Vật lý học hiện đại, thế giới tự nhiên có 4 loại tương tác: hấp dẫn, điện từ, mạnh, yếu. Khác hẳn với 4 tương tác có sẵn của vật lý hiện đại; tâm sinh học có những quy luật tương tác riêng. Chúng ta tạm gọi là tương tác thứ 5.
Tương tác thứ 5 của tâm như sau:

     a. Cùng dấu thì hút nhau / Khác dấu thì đẩy nhau
     b. Riêng ở Dục Giới thì khác (do bản chất là sắc tướng, có nam có nữ)
          - Cùng dấu cũng hút nhau: hai người cùng phái cũng có thể thích nhau
          - Khác dấu cũng hút nhau: hai người khác phái cũng có thể thích nhau
          - Khác dấu cũng đẩy nhau: hai người khác phái cũng có thể không thích nhau
     Có thể hiển thị lực tương tác này qua phương trình sau đây:  

            F = f1 (x) f2 (y) / δ T δ R

            (T: thời gian / R: không gian)   

Trường của tương tác không lệ thuộc vào yếu tố không gian, thời gian ... các thử nghiệm tại Liên Xô cho biết, người ta nhận được bản tin tại Siberia trước khi bản tin được truyền đi. Loài chó biết chủ sẽ về khi còn ở rất xa. Chó ANTIS rất nổi tiếng trong thế chiến thứ 2, ra đón chủ ở phi đạo. Nó có thể biết trước máy bay đối phương đến oanh tạc.

4. Tìm hiểu về cấu tạo tâm theo mô hình thiền định của tài liêu Vi Diệu Pháp:

     a. Số lượng tâm: Ở cảnh dục giới số lượng tâm nhiều vô số. Căn cứ vào thực tế chúng ta có thể đưa ra một nhận định như sau: Nếu chia tâm ra làm 2 loại là Thiện và Không Thiện, ở cõi càng thấp thì số lượng Không Thiện nhiều hơn Thiện, đến cõi người 2 loại tâm này có vẻ tương đương về số lượng. Tiến lên những cảnh giới cao hơn số lượng Tâm ít đi và Tâm bất thiện gần như không còn. Tuy nhiên mười loại tâm phiền não lại không buông tha ai.

     b. Tìm hiểu và phân tích: Vì lý do gì mà SAKYA MUNI phải từ bỏ các vị thầy để đi tìm... và tìm cái gì? Người ta có thể mô hình hóa kịch bản như sau: Theo truyền thuyết, SAKYA MUNI theo học với các vị thầy và đã đạt được kỹ thuật Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng. Nhưng Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng là gì? Chúng ta ai cũng đều biết lời giải thích là: không có tư tưởng (phi tưởng), không thể bảo là hoàn toàn không có tư tưởng (phi phi tưởng). Cụ thể hơn là ở phi tuởng phi phi tưởng thì các tâm vi tế, tâm nhỏ vẫn còn tồn tại. Quan trọng là có những tồn tại sau đây không giải quyết được ở cảnh giới này:

           - Thứ nhất: Vấn đề quan trọng nhất là không vỡ lẽ được về chân lý, về sự thật vĩnh cửu là: Vô thường, Vô ngã và Khổ não. Lầm tưởng cõi mình đang sống là vĩnh viễn và hạnh phúc, sanh ra tâm tham ái...nguồn gốc của luân hồi sanh tử.
           - Thứ hai: Là không hiểu rõ về 10 loại phiền não. Trong đó phiền não quan trọng nhất là Thân kiến (chấp ngã, thấy mình có thật), nghi, giới cấm thủ, dục ái, sân, sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh (không biết Tứ Diệu Đế).

     Chính vì những lý do cụ thể nêu trên, mà SAKYA MUNI phải bỏ các vị Thày ra đi, tự giải quyết một mình. Do thiền định chứng ngộ, nhờ trực giác, hiện kiến, thông đạt trí (paccakkha) (pativedhanana). Nói một cách khác, do thiền định, có pháp nhãn nên đạt được sự minh triết (con mắt thứ ba).
Sakya Muni đã phát hiện ra một yếu tố quan trọng là SANTI (An Tịnh) và SANTI là duy nhất, chỉ có một mà thôi (KEVALA), đó chính là tự tánh của Niết Bàn (NIBBANA).

Đến đây chúng ta thấy mô hình chuẩn cấu tạo tâm đã hoàn tất. SAKYA MUNI đã tìm ra cái cần tìm. Đó là:

    1. Có 3 loại tâm cấu tạo nên các loại tâm:
       - Thiện tâm
       - Không thiện Tâm
       - Yếu tố SANTI: là yếu tố căn bản của trời đất. Đó chính là tình thương. Nó là vô hình vô ảnh nhưng tạo ra những thứ tâm khác.
    2. Tương tác tâm sinh học tuân theo quy luật  là cùng dấu hút nhau.

SAKYA MUNI khi tìm ra yếu tố SANTI thì đã hoàn chỉnh mô hình chuẩn về cấu tạo tâm của tất cả các thực thể ở các cõi – cùng với phát minh tương tác của tâm là định luật tương ưng, thì mô hình chuẩn lại càng hoàn thiện hơn.
Dù bất cứ thuộc trường phái nào, ai cũng phải đi tìm yếu tố SANTI – yếu tố giống như hạt của Chúa, vật chất tối... mà các nhà khoa học khổ công đi tìm – Người tu thiền định tìm bằng tuệ nhãn trong cơn đại định. Người thế gian tìm bằng máy gia tốc khổng lồ HADRON, và điều đáng tiếc là người thế gian khi tìm được hạt Higgs thì lòng tham ái tăng lên.




Hy vọng bài viết này giúp ứng dụng được một phần nào trong tiến trình thực tập thiền định. Có thể một trong những lý do làm cho người ta khó nhập định là do tính chất không đồng nhất của không gian: Cõi người, nhiều cõi tiếp theo, sơ thiền hữu sắc ... Vì không gian của các cõi không đồng nhất, nên xung lực của định lực không thể bảo toàn, sắp nhập định lại thối định, định lực yếu đuối. Cũng có thể vì những lý do nêu trên là không bảo toàn được xung lực của định lực, nên đang ở một lớp định nào đó lại bị thối định ngoài ý muốn. Người nhập định ở một lớp định bất kỳ, người cận tử, lúc nằm mơ, người ta thường thấy mình đi lang thang vô định, chẳng biết đi về đâu. Có thể có hai cách giải thích:

    * Vì không gian không đồng nhất nên xung lực của chúng ta không được bảo toàn
    * Vì thời gian không đồng nhất nên chúng ta mất đi năng lượng vốn có của các tâm, chúng ta bỡ ngỡ, thậm chí hốt hoảng vì một loại cấu tạo tâm mới quá xa lạ.
    * Vì tính chất không đẳng hướng của không gian nên có lẽ chúng ta mất đi moment quán tính vốn có của con quay hồi chuyển dẫn đến chúng ta mất phương hướng, lang thang không biết đi về đâu!

NHỮNG ỨNG DỤNG CỦA ĐỊNH LUẬT TƯƠNG ƯNG

Định luật tương ưng được đề cập đến trong bài viết này có thể giúp chúng giải thích, ứng dụng trong tiến trình thiền định. Tài liệu Vi diệu pháp VISUDDHI MAGGA, trong phần chọn đối tượng để quán tưởng, đưa ra rất nhiều tiêu chí, có giải thích kỹ lưỡng, tại sao chọn cái này lại không chọn cái kia. Người ta có thể tự hỏi: bản chất thật sự của việc lựa chọn này là gì?

Trong đời sống thường ngày, cũng như người nhập định, cảm nhận một cái gì đó đã hay đang xẩy ra (chứ không phải là sẽ xẩy ra), trên thực tế đã xẩy ra đúng như vậy. Hiện tượng này dân gian gọi là thần giao cách cảm, từ ngữ chuyên ngành gọi là TELEPATHY. Telepathy có gốc từ Hy lạp, tele: xa, pathos: cảm xúc, tác động. Từ ngữ này chẳng liên quan gì đến thần thánh cả. Trong thời gian chiến tranh lạnh (theo tài liệu PARA PSYCHOLOGIE EN L' URSS), cả hai khối đều có những công cuộc khảo cứu chuyên sâu về tiềm năng của con người, nhằm sử dụng trong quân sự. Để truyền tin, người ta thử nghiệm như sau: Một con thỏ mẹ trên đất liền, những con thỏ con ở trong tàu ngầm lặn dưới nước, mỗi khi thỏ con bị sát hại, thỏ mẹ biểu lộ những tín hiệu không bình thường.

Định luật tương ưng sinh học đã được đề cập đến trong bài viết này, cũng giải thích được phần nào hiện tượng nói trên. Nếu chúng ta giả định tâm mang tính lượng tử, thì cơ học lượng tử cũng có cách giải thích theo mô hình lượng tử của mình. QUANTUM  ENTANGLEMENT, rối lượng tử hay vướng lượng tử, giải thích như sau: trạng thái lượng tử của hai hay nhiều vật thể thì có liên hệ với nhau, dù chúng có ở rất cách xa nhau, kể cả là năm ánh sáng. Cụ thể là hai photon có liên hệ với nhau thì photon này quyết định trạng thái photon kia, photon này có trạng thái nào đó, thì photon kia cũng có trạng thái tương ứng. Tương tác này nằm ngoài bốn tương tác truyền thống cơ bản. Người ta ứng dụng cho việc thông tin, không cần đến chuyển động của hạt cơ bản. Vận tốc truyền tin nằm dưới vận tốc ánh sáng. Hiệu ứng này làm kinh ngạc ngay cả các khoa học gia, nên người ta gọi đó là: Ghostly action at a distance, Spooky interaction ...


Nhóm CTR


hstd

Những đàm luận về đề tài: Cuộc hành trình đi tìm yếu tố SANTI ...

Xin nhấp chuột vào đây:
https://www.hoasentrenda.com/smf/index.php?topic=9407.0

CTR

#18



Kính thưa Thầy, Admin cùng các ACE của diễn đàn HSTĐ,

Thật là một niềm vui lớn, hạnh phúc lớn khi nhìn lại toàn bộ các bài viết của nhóm CTR đã có cơ hội xuất hiện trên diễn đàn HSTĐ; cũng thật là ngạc nhiên thú vị để nhận ra rằng những gì nhóm CTR chia sẻ trên diễn đàn đã được Thầy Tibu nhận xét một cách tinh tế rằng: "nó có phảng phất đâu đây cái hstd". Hình như đây là cuộc hội ngộ  "định mệnh" của HSTĐ và nhóm CTR. Và Thầy đã có lần viết: "Tibu nghĩ rằng chỉ có "Tình Thương Chân Thành" thì "Năng Lực Lôi Kéo Nhau" mới có chỗ đứng".
Quả thật đó là lòng từ bi của bậc Giác Ngộ.

Lòng từ tâm của Thầy và ACE diễn đàn còn thể hiện qua việc đón nhận những chia sẻ của nhóm CTR, mặc dù những ý tưởng này chưa hoàn toàn thích hợp với quỹ đạo của HSTĐ. Việc chấp nhận này không những thể hiện lòng từ tâm, mà còn thể hiện tinh thần hết sức khoa học, khách quan, vô tư và cầu tiến của diễn đàn.

HSTĐ cống hiến cho những người đang tu tập những kiến thức thực tiễn hữu dụng, trong cuộc hành trình tìm về giải thoát. Khó có chiếc áo nào dù là hợp thời trang cách mấy, có thể mặc vừa và đẹp cho tất cả mọi người.
Nhưng HSTĐ đã là "Người Thợ May" tài tình vì đã may đo được tất cả những chiếc áo tâm linh, và cũng vừa cho tất cả. Nếu chúng chẳng may không vừa, thì HSTĐ lại không ngần ngại sửa lại cho nó vừa với từng người một. Đây là một công việc không hề dễ dàng với một "ngôi chùa trên trời" có hàng trăm tu sĩ. Rõ ràng điều này là tuyệt vời hơn rất nhiều so với những lý thuyết xa vời thực tế.

Điều mà nhóm CTR ấn tượng nhất, là HSTĐ đã rất thành công trong việc khôi phục niềm hy vọng cho những người tu tập thông qua những thành quả đạt được của các tu sĩ trong HSTĐ. Chiến dịch "vãn hồi hy vọng" này đã là ánh sáng của ngọn hải đăng trong hành trình xa thăm thẳm vượt biển vô minh giữa đêm tối mịt mùng.

Từ sâu thẳm trái tim mình, nhóm CTR xin chân thành cảm tạ tất cả những điều tốt đẹp mà Thầy đã hỗ trợ nhóm.
Chân thành biết ơn Admin đã âm thầm tạo tất cả những điều kiện thuận lợi nhất cho việc đăng bài và đàm luận.
Nhóm cũng xin chân thành cảm ơn tất cả ACE của diễn đàn và quý độc giả gần xa đã dành thời gian chia sẻ, giao lưu, góp ý, phê bình cho những bài viết của nhóm. Không có HSTĐ, CTR không thể có niềm vui hôm nay.
HSTĐ đang chấp cánh ước mơ cho nhóm băng mình ra không gian rộng lớn hơn để góp chút phần nhỏ bé của mình vào ngôi nhà Vi Diệu Pháp.

Cuối cùng nhóm CTR xin kính chúc Thầy, Admin và toàn thể quý độc giả dồi dào sức khỏe. HSTĐ thực sự đã trở thành điểm tựa tâm linh cho những ai yêu thích tu tập và tìm cầu chánh pháp, trong số đó có nhóm CTR .

Trân trọng


Nhóm CTR


p/s: Bài viết kế tiếp đang được chuẩn bị để chia sẻ cùng quý độc giả :
"Nguyên Tắc Búp bê Matryoshka "
Nhóm cũng xin cáo lỗi nếu có những chậm trễ trong việc trả lời một số câu hỏi. Một phần là do bận rộn cuộc sống, một phần là do có một số câu hỏi mà nhóm nhận thấy rất hay và muốn phát triển thành những bài viết kế tiếp với mong ước đem lại thêm chút lợi lạc cho những người hữu duyên.
Mong quí vị hoan hỉ lượng thứ.




CTR

#19


Búp bê Matryoshka là sản phẩm của nước Nga, được chế tác năm 1980. Búp bê này có nhiều con giống nhau, lồng vào nhau (Object within similar object), búp bê lớn ở ngoài có thể là một thôn nữ người Nga, mặc áo choàng dài. Nếu chúng ta mở búp bê này ra, thì tuần tự sẽ có những búp bê nhỏ hơn, tuổi cũng nhỏ hơn, cuối cùng là một búp bê nhỏ nhất là một em bé sơ sinh. Về giới tính, những búp bê nằm trong là nam cũng có thể là nữ. Số lượng búp bê đầu khoảng từ 5 đến 8, nhưng đến nay số lượng có thể tăng lên vài chục con.
Về sau số chủ đề (themes) của búp bê Matryoska càng trở nên đa dạng hơn: có thể là những nhân vật thần tiên, cổ tích, người máy, các chính trị gia Liên Xô thuộc giai đoạn đổi mới tư duy (Perestroika).



Tại sao chúng tôi lại đề cập tới bộ búp bê dễ thương và nổi tiếng này trong đề tài thiền định?
Xin mời quý độc giả theo dõi bài viết sau đây. Lần lượt bài được trình bày qua 4 phần:

    - Chưa chắc các con đường đều hướng về La Mã.
    - Gót chân Achilles của trường phái thiền định Phật Giáo.
    - Khủng hoảng về khái niệm Sắc của hệ thống thiền định Hữu Sắc.
    - Ổ T - Rex của luận lý hình thức thuộc hệ thống thiền định Phật Giáo.

I
. Chưa chắc các con đường đều hướng về La Mã

Nguyên tắc búp bê Matryoshka (Russian Nesting Dolls Principle) có một sự tương thích kỳ lạ và mô hình hóa rất nhiều hệ thống thiền định. Như quý độc giả đã biết, trường phái Tiểu Thừa kinh điển đề xướng một lối tập luyện tiệm tiến, qua nhiều giai đoạn (5 giai đoạn, 8 giai đoạn, 9 giai đoạn ... rất có thể còn nhiều giai đoạn hơn nữa) và mục đích cuối cùng là hy vọng tìm được yếu tố TỊNH (yếu tố SANTI); yếu tố có thuộc tính duy nhất và là bản chất của NIẾT BÀN. Người tu thiền định thường lấy mô hình mẫu của Sakya Muni làm thước đo, làm chuẩn mực.
Để vào được NIẾT BÀN, chúng ta cần:

  a. Hiểu được công thức bất tử nổi tiếng của Phật Giáo (Matrika) là Vô thường, Vô ngã và Khổ não.
  b. Tu tập qua 4 giai đoạn trong nỗ lực dập tắt 10 phiền não, bao gồm:
      Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục ái, sân, sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử và vô minh.

Tuy nhiên, Niết Bàn chưa chắc là một điểm hẹn, một vùng đất hứa đối với tất cả mọi thực thể. Thật vậy, như quý độc giả đã biết, cô Kiều của Nguyễn Du ba chìm bảy nổi và được khuyên là:

    Tu là cõi phúc, tình là dây oan.

Thế nhưng nàng Kiều lại có quan điểm riêng của mình:

    Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai,
    Nợ tình chưa trả cho ai,
    Mối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.




Thượng Đế dường như rất công bằng trong việc phân chia đồng đều cho mọi người về ý thức đạo đức, phân chia khái niệm: Chân, Thiện, Mỹ. Ngài còn phân chia cả tự do cho tất cả mọi thực thể.
"Tôi không có tự do, tôi là tự do" (Je n'ai pas la liberté, Je suis la liberté) là câu nói nổi tiếng của trường phái Hiện sinh trong thế kỷ trước. Vì "tôi là tự do" nên mỗi người đều có quyền thể hiện cá tính riêng của mình.

Ở Dục Giới, do các bất thiện tâm có vẻ có một vai trò ưu thế trong cá tánh của một thực thể bất kỳ; thế nên thông thường trong cuộc chiến này thì phần thắng lại luôn nghiêng về các tâm bất thiện; trong đó ông Trời Dục Giới cũng không thoát khỏi:

    Đụng vào tình ông Trời cũng mệt,
    Trời lúc yêu cũng méo mặt mo,
    Thất tình Trời cũng nằm co,
    Em ơi! Làm phúc thí cho ... tí tình.


Trường phái thiền định nào cũng rất khó. Lý do đơn giản là vì thiền định chống lại chính mình, chống lại con người thật của mình đang sống trong cảnh Dục Giới.

Trở về với con búp bê dễ thương Matryoshka của chúng ta. Có người lại muốn chỉ có 2 con búp bê mà thôi: con búp bê lớn ngoài cùng là chúng ta hiện nay và con nhỏ nhất, nhỏ tuổi nhất nằm trong cùng ... là Như lai tạng hay Phật tánh. Trực tiếp như vậy sẽ nhanh hơn, đơn giản hơn.
Vậy thì mô hình này quý độc giả đều biết: đó chính là mô hình của Đại thừa; còn gọi là tâm truyền tâm, trực tiếp, thoại đầu, công án...
Khi tu tập pháp môn này có người đã than thở:

    Nói gì chỉ quán, tham thiền,
    Thoại đầu, công án, ngã kềnh như rươi.




Xin phép được nhắc lại cùng quý độc giả những câu chuyện nổi tiếng: truyền thuyết kể rằng Tôn giả Culapanthaka 4 tháng không thuộc nổi một đoạn kinh, Huệ Năng thì không biết chữ nhưng lại được kế thừa sự nghiệp của Tổ; trong khi Thần Tú và Anan đều là những bác học lại bị từ chối. Lý do cho nghịch lý này là tâm truyền tâm không qua trung gian ngôn ngữ, lời không diễn tả được chân lý.

Phần nhận xét xin dành cho quý độc giả ...

II. Gót chân Achilles hay điểm yếu của thiền định

Cho đến tận ngày hôm nay, các bài viết về thiền định nói chung - ở Âu Châu cũng như Mỹ Châu - cũng đều ghi nhận những hệ quả tích cực, đáng ca ngợi của thiền định, và cho rằng thiền định nên được thực hành và nhân rộng đến cho tất cả mọi người, kể cả trẻ em.
Trên thực tế, có lẽ thiền định chưa chắc đã mang lại những kết quả lạc quan như vậy! (rất mong quý độc giả đã tu thiền lâu năm đóng góp ý kiến). Bên cạnh mặt tích cực, không ai ngờ rằng thiền định có thể có những hệ quả tiêu cực. Có 2 khả năng xẩy ra cho người tu thiền định:

  1. Cho dù là tập luyện một vài năm hay nhiều năm mà nếu không nhập định được thì không có gì để nói. Vì tôi vẫn là tôi, bạn vẫn là bạn.
  2. Nếu ít nhiều thực sự nhập định được, thì vấn đề lại khác. Có rất nhiều hệ quả không thể nói hết được và khó phân biệt đâu là tích cực đâu là tiêu cực như:

      a. Tự kỷ ám thị sanh ra hoang tưởng.
      b. Do quá mong muốn, không giữ giới, nên bị nhập từ nhẹ đến nặng.
      c. Mở huệ âm, thấy mình đi nơi này nơi kia, biết quá khứ vị lai ... chữa bệnh cho nhiều người, giảng pháp tu hành, biện tài vô ngại một cách tự nhiên, nhưng không đề cập tới giới luật: Sát, đạo, dâm, vọng, v.v... Thậm chí viết cả kinh sách, viết cả kinh A di đà (người viết bài này từng chứng kiến).
      d. Có người thực sự không bình thường, vì vay nợ của cõi âm quá nhiều, phải để người ta sử dụng thân xác mình để thỏa mãn các nhu cầu ở Dục Giới.

Khi xảy ra các hệ quả nói trên, người tu lại tưởng là mình thiền định thành công.

Tu thiền mà không giữ giới thì thường sanh ra các hệ quả không thể lường trước được. Có lẽ có một điều rất nên quan tâm, là do những cõi giới khác không có thân xác vật chất nên họ rất cần thân xác vật chất để thỏa mãn các nhu cầu ở Dục giới như: ăn uống, uống chất gây say, quan hệ nam nữ, thích được gọi là cô, cậu, thầy ...
Trì giới là mẹ của an toàn, kiết giới có lẽ không bằng trì giới - Đạo đức trọng quỷ thần kinh - Tâm tạo tác tất cả, Tâm nào pháp đó. Có lẽ quý độc giả cũng chẳng lạ gì với 2 đại tác giả của thời hiện đại là Blavasky và Barbara Ann Brennan, từng có những tác phẩm viết về tâm linh nổi tiếng khắp thế giới. Chính các vị này tự kể lại rõ ràng là họ bị nhập.
Trên đây chỉ là những hiểu biết hạn hẹp của người viết. Rất mong được quý độc giả đóng góp ý kiến chỉ bảo những sai lầm, xin chân thành cảm ơn!

Có vị độc giả đưa ra ý kiến sau đây, mà đây cũng là ý nghĩ của rất nhiều người: "Tu thiền mà phải học hành khó khăn quá, có nhiều trẻ em không cần học hành hiểu biết mà vẫn tu tốt có sao đâu? ".
Thực sự thì chẳng ai muốn: "Ma đưa lối, quỷ dẫn đường, lại tìm những lối đoạn trường mà đi".
Tu tập cách này thì thiền Đốn ngộ đã đề cập từ lâu lắm rồi; từ sau khi Phật nhập Niết bàn. Nhưng trên thực tế bạn và tôi đã gặp ai thành công chưa?
Sau đây chúng ta thử kể một số vị nổi tiếng trên thế giới đại diện cho một số trường phái:

    Vivekananda:                 Đại diện cho trường phái Raja Yoga
    Yogananda:                    Đại diện cho trường phái Cria Yoga
    Milarepa:                         Đại diện cho trường phái Mật Giáo Tây Tạng
    Lopsang Rampa:            Đại diện cho trường phái Mật Giáo Tây Tạng
    Barbara Ann Brennan:  Đại diện cho trường phái Kundalini Yoga

Tất cả những vị nói trên, đều phải học hành, thực tập rất gian khổ trong nhiều năm. Chúng ta thử xem qua  chương trình học tập của Phật Giáo Tây Tạng (theo tài liệu Présence du Bouddisme / France - Asie)

    1. Nyaya:               4 năm
    2. Prajnaparamita:   4 năm
    3. Vinaya:               1 năm
    4. Madhyamaka:      2 năm
    5. Abhidharma:        2 năm

Theo lời kể của Lobsang Rampa, sau khi tốt nghiệp tại Tây Tạng, ông được chỉ định sang Châu Âu để truyền bá Mật Giáo Tây Tạng. Tại Anh Quốc, ông đã tốt nghiệp Y khoa bác sỹ, tốt nghiệp phi công ... Ông viết rất nhiều tác phẩm mà đến ngày nay còn giá trị.

Qua phần trình bày trên, tự quý độc giả lựa chọn cách tu học nào là thực tế và hữu hiệu cho bản thân mình.
Yogananda từng nói: "Cái gì Thượng đế cũng giúp được, nhưng muốn thi đỗ thì phải học bài", hình như Ngài hiểu định luật nhân quả rõ hơn các vị cho mình là Phật tử.

Vấn đề trẻ em tu thiền, thì không phải là đề tài mới. Ở Tây Tạng gọi là Tulku, hiện tại phỏng định có khoảng 500 Tulku ở khắp Tây Tạng. Trước khi bị Trung Quốc chiếm đóng thì số lượng lên đến vài ngàn. Mỗi vị Tulku đều có những đặc điểm về tái sinh. Thí dụ: Vị Đại Lạt Ma thứ 14 là tái sinh của vị thứ 13, vị Đại Lạt Ma thứ 13 lại là hiện thân của Quán Tự Tại Bồ Tát, đó là vị Bồ Tát của từ bi, tay cầm cành sen trắng. Hầu hết Tulku là nam giới, cũng có nữ giới. Khi sắp qua đời, các vị này thường xác định trong đời sau họ sẽ xuất hiện ra sao, họ để lại lá thư hay bài hát, mô tả về nơi sau này để người ta đi tìm.



Việc xác nhận Tulku đôi khi rất mơ hồ và mâu thuẫn. Theo các sử gia Tây Tạng, vị Lạt Ma thứ 5 đã viết trong bản tự thuật của mình: "Người ta đưa cho tôi rất nhiều đồ vật, nhưng tôi không nhận diện được, khi ông bước ra khỏi phòng tôi nghe ông nói với mọi người rằng tôi đã thành công trong cuộc trắc nghiệm. Ông trở thành người đỡ đầu, giám hộ gia sư (Tutor)"

Vào năm 2009, trong phim tài liệu Tulku, có người đã nhận xét: "Nếu người dân Tây Tạng không cẩn thận thì hệ thống Tulku sẽ làm tiêu tan, làm phá sản (ruin) Phật giáo Tây Tạng. Phật giáo quan trọng hơn là hệ thống Tulku".
Đây là một kịch bản đầy kịch tính của xã hội Tây Tạng ngày hôm nay mà chính quyền Tây Tạng đang rất quan tâm giải quyết.
Chúng ta hy vọng lịch sử về Tulku sẽ không tái diễn tại Việt Nam.

Thời gian gần đây có thêm một thành viên mới trong sân chơi thiền định, đó là trường phái Công Giáo hay Thiên Chúa Giáo. Theo tài liệu phổ biến tại khu vực thành phố Sài Gòn gần đây cho biết, Thiên Chúa Giáo đã thực hiện thiền định rất lâu, từ nhiều thế kỷ. Người ta có thể kể đến những cái tên nổi tiếng như Moses với: "Hãy về tĩnh tọa trong phòng, căn phòng dạy ta mọi sự", Thánh Pantaenus học Dhyana tại Ấn Độ, sau đó truyền cho Thánh Clement. Thời Trung cổ có giáo sĩ Richard (1173). Hai tổ thiền là Thomas Merton (1915 - 1968) và John Main (1926 - 1982). Cũng trong tài liệu này có ghi lại rất nhiều nhận xét, định nghĩa, giải thích về thiền định là gì, có cả kỹ thuật thiền định.

Thiền định theo trường phái này là gì?
Ta đừng rơi vào cạm bẫy tìm hiểu thiền qua những giảng giải đầy chữ nghĩa, thiền là một chứng nghiệm sống không thể giảng giải - "dù nói mãi về đồ ăn, cũng không làm ta no bụng".
Thiền không phải là một hệ thống tư tưởng. Thiền là cầu nguyện tập trung (Centering prayer); cầu nguyện không đọc kinh ... Về kỹ thuật thiền thì giữ lưng thẳng, hơi thở điều hòa, mắt nhắm lim dim, miệng tụng mantra: "maranathan" rồi chìm vào hư vô. Ngồi xuống, giữ lưng thẳng, tụng mantra "maranathan" ngoài ra không kỳ vọng bất cứ điều gì. (Maranathan có nghĩa là: "Lạy Chúa! Xin hãy đến". Đây là ngôn ngữ Aramiac. Ngôn ngữ của Đức Chúa Giêsu dùng ngày xưa).


Theo tài liệu thần học thiêng liêng của tác giả Hoành Sơn. (Phần A, chương 9): "Con đường nội tiến: Suy niệm và nhập định" là tài liệu chính quy để học tập. Căn cứ vào tài liệu kinh thánh, mọi việc bắt đầu liên quan đến loài người là vấn đề tội tổ tông. Eva, (đã nghe lời xúi dục của con Rắn) ăn trái cấm và xúi Adam ăn nên biết điều thiện và điều ác. Họ chỉ chưa kịp ăn trái cây trường sinh để trường thọ. Sau đó bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng Eden; Từ nay Adam phải làm lụng vất vả mới có ăn, Eva phải chịu mang nặng đẻ đau mới sinh được con. Con rắn (hiện thân của quỷ Satan) " ... bị nguyền rủa ... phải đi bằng bụng, phải ăn bụi đất ... Ta sẽ tạo niềm thù hận giữa ngươi và đàn bà (Eva) ... "

Thiền định và sự hiểu biết là một mô hình đối xứng không thể tách rời, minh triết là một thuộc tính tất nhiên của thiền định ... Thiền định mà không đưa đến minh triết, thì thiền định để làm gì?

Pháp môn Raja Yoga từng nói:
    "Không tu Raja thì không có sự minh triết"
    "không minh triết thì không tu được Raja Yoga".
Sakya Muni cho là:
    "Thiếu sót lớn nhất trong đời người là thiếu hiểu biết"
    "Tài sản lớn nhất trong đời người là hiểu biết và sức khỏe".



Căn cứ vào Kinh Thánh, thì kịch bản của Eva và Adam do ăn trái cấm, nên có sự hiểu về điều thiện và điều ác ...
Sự hiểu biết này đã không được thưởng mà trái lại còn bị phạt rất nặng và làm liên lụy tất cả nhân loại đến tận ngày hôm nay. Nói tóm lại, sự hiểu biết rõ ràng là một tội lỗi theo quan điểm của Chúa.

Sở dĩ người ta cần phải suy nghĩ về vấn đề tội tổ tông, vì nó là nguồn gốc của toàn bộ cuốn Thánh Kinh chứa đựng trong cả ngàn trang giấy. Theo hiểu biết của người viết bài này thì việc xử tội Eva và Adam có lẽ không phù hợp với luật pháp bình thường của các quốc gia có nền dân chủ. Một người không thể tự ý vừa làm ra luật pháp, vừa xét xử, vừa thi hành án ... Luật pháp phải được viết trên sự công bằng bác ái, phải ghi thành văn bản rõ ràng và phải được thực thi một cách nghiêm túc, không có bằng chứng thì không thể kết tội, chế tài phải rõ ràng ... Eva và Adam không có trạng sư để biện hộ, như vậy có lẽ việc xét xử đã không theo một trình tự tố tụng dân sự hoặc hình sự ... nào cả.

Tác phẩm: "What the Bible really say" người dịch là Mark Howson - Wings Books - New York 1980 _ P29_IB_28 viết về Chúa như sau: "He is ruthless, wrathful, vengeful, jealous peace loving - But about all - he is almighty".
Để tránh hiểu lầm là người viết bài này có ác ý. Xin quý độc giả vui lòng tự dịch.

Vậy làm sao tu thiền định được đây. Trí tuệ thông suốt là hệ quả tất yếu của Tứ thiền hữu sắc ... điều này quý độc giả ai cũng biết. Rất có thể một số quý độc giả đang đọc bài này, có khả năng nhận biết ít nhiều quá khứ, vị lai ... Vậy Chúa sẽ đưa ra hình phạt nào cho cái tội hiểu biết loại này?
Rất mong quý độc giả vui lòng góp ý kiến để Chúa có thể đưa ra quyết định phù hợp hơn với quy luật khách quan.

Nếu tôi hoặc bạn là một giáo dân và có ý định tu thiền, hoặc đang tu thiền, thì chắc chắn dù bạn hay là tôi cũng sẽ có 2 mối lo:

1. Kinh nghiệm lịch sử mà Thánh Kinh đã ghi lại, tổ tiên loài người bị trừng phạt vì ăn trái cấm đưa đến sự hiểu biết.

Nay tôi tu thiền định thì hệ quả tất yếu là sự minh triết (minh triết có gốc chữ Hán là: Sáng suốt, tách bạch, chẻ ra ... để hiểu cho rõ). Kết quả này có lẽ còn trầm trọng hơn cả cái "biết" mà tổ tiên loài người đã vi phạm. Vậy tôi có bị trừng phạt không? Chúa là: " ... He is almighty". Như thế này thì tôi bị trừng phạt là cái chắc.

2. Theo tài liệu được phổ biến thuộc khu vực Sài Gòn của Công Giáo, thì kỹ thuật tu thiền định là ... đọc mantra là "maranathan". Maranathan có nghĩa là: "Lạy Chúa! Xin hãy đến".
Nếu Chúa thực sự đến, xuất hiện với hình tướng: "He is ruthless, wrathful, vengeful, jealous ...", thì liệu đây có phải là một công án, một thiện pháp để quán tưởng không?

Câu trả lời có lẽ chúng ta phải tự tìm lấy.

(còn tiếp ...)


Nhóm CTR


Bài viết kế tiếp cống hiến cùng quý độc giả:

"Khủng hoảng về khái niệm Sắc của hệ thống thiền định Hữu Sắc".




CTR

Kính thưa Thầy, Admin cùng tất cả ACE của diễn đàn hstd!

Một lần nữa, CTR xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đến Thầy, Admin cùng mọi người đã tạo mọi điều kiện tốt lành để loạt bài này có cơ hội xuất hiện trên diễn đàn. Hiện nhóm cũng được biết Thầy và một số anh chị em đồng tu cũng không được khỏe lắm. Xin cho phép nhóm được hồi hướng chút công đức nhỏ bé đến Thày và các anh chị em của diễn đàn. Cầu nguyện cho Thầy, các ACE có nhiều sức khỏe và HSTĐ mãi trường tồn.

Để tránh nhàm chán, nhóm CTR sẽ đăng bài của 2 chủ đề song song: nguyên tắc búp bê Matryoskha và Thần Thông. Xin cảm ơn quý độc giả đã bỏ thời gian để theo dõi những bài viết của nhóm.

Sau đây là phần tiếp của bài:



III. Khủng hoảng về khái niệm "SẮC" của các hệ thống Thiền Định

Nhạc sĩ Phạm Duy trong bản nhạc Đố Ai đã viết:
 Đố ai nằm ngủ không mơ
  Biết em nằm ngủ hay mơ
  Nửa đêm trăng xuống, đứng chờ ngoài hiên
  Nửa đêm anh đến ... bến bờ yêu thương ....


Đúng vậy, tất cả mọi người đều nằm mơ khi ngủ. Đó là một sự thật. Ca sĩ Trúc Lam, Trúc Linh đã từng mơ:
 
Đêm qua em nằm mơ, mơ thấy anh lìa xa cuộc đời.
  Anh đi anh bỏ em, không gởi lại một lời trăn trối.
  Em khóc như trời mưa!

Ngày xưa Kiều cũng mơ thấy Đạm Tiên, theo lời kể của Nguyễn Du:
 Sương in mặt, tuyết pha thân.
  Sen vàng lãng đãng như gần như xa.
  ... Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây...
  Gió đâu lay động bức mành.
  Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.


  Trang Tử mơ rồi tự hỏi: "Tôi là bướm hay bướm là tôi"



Với cái nhìn của nhà Phân tâm học như ERICH FROMM, thì cá tánh con người là một tập hợp tâm lý bao gồm: bẩm sinh và tập thành (inne's et acquises). Chính vì lý do này mà tạo ra cá tánh. Vẫn theo tác giả này khi phân tích giấc mơ thì có lẽ 2 cô gái kể trên được sắp vào loại "melancolique" (buồn bã), có khuynh hướng của "masochisme" (tự làm khổ mình) ... Theo tài liệu "Interpretation du Rêve" thì giấc mơ chỉ là một hình thức để giải thoát ẩn ức. Các ẩn ức ở khu vực tiềm thức có cơ hội được giải thoát khi người ta nằm mơ.
Vi Diệu Pháp với đề tài "SẮC" đã đưa ra một cái nhìn mà khoa học, cho đến tận ngày hôm nay, hình như cũng không ai hiểu cả.

Có thể có hai lý do để giải thích cho chuyện không hiểu này:
  1. Có người thực chứng thiền định nhưng lại thiếu hiểu biết về lý thuyết và kỹ thuật của Vi Diệu Pháp.
  2. Hoặc là chỉ hiểu được nghĩa của chữ, chứ không phải ý nghĩa ở sau hàng chữ. Không thực chứng cũng như thiếu kinh nghiệm về thiền định.

Tài liệu Vi Diệu Pháp có lẽ được viết từ quan sát kinh nghiệm thực tế trong khi thiền, chứ không phải là một tài liệu phát xuất từ trí tưởng tượng của con người bình thường. Có thể vì hai yếu tố nói trên, V.D.P là kinh vô tự nên "vô tri nên bất mộ".
Chúng tôi chỉ trình bày sự thật, không có ý đề cao, khen chê bất cứ ai. Rất mong quí độc giả hiểu và thông cảm với thiện chí của người viết. Chúng tôi thành thật xin lỗi nếu có gì không hài lòng quí độc giả.

Bây giờ chúng ta đan cử một giấc mơ điển hình của bất cứ ai: Mơ đi đâu đó, gặp một số người quen, hoặc không quen, nói chuyện ... Có khi sợ quá, mừng quá nên muốn kêu lên hoặc la lên nhưng cứ ú ớ, không thể thốt thành lời ... cho đến khi tỉnh dậy. Giấc mơ kể trên có những đặc điểm đáng ghi nhận sau đây:
  - Trong mơ chúng ta không thấy được thân xác vật chất của mình.
  - Không nói, không nghe được; nhưng vẫn nhìn được và cảm thấy mình nói chuyện bình thường...
  - Có khi tai nạn xẩy đến trong giấc mơ như bị dao chém, bị lửa cháy, nhưng cơ thể lại không bị tổn thương, hư hỏng ...

SẮC của VDP đã giải thích như sau:
Căn cứ lý thuyết về sắc
  - Ở cảnh Dục giới sắc có đủ 28 yếu tố sắc pháp mà cụ thể là thế giới vật chất. Trên thực tế có rất nhiều hình thức và kết hợp khác nhau.
28 yếu tố sắc là đối tượng của thị giác. Trong lúc mơ, mắt ta vẫn còn nên nhìn thấy.Tuy nhiên sắc vi tế hơn, do đó "Sen vàng lãng đãng như gần như xa!". Vì tâm tạo ra sắc, tâm trong lúc mơ đã có sự biến đổi, nên ta không có thân (body), không có miệng, mũi, lưỡi ... Nếu có chỉ là cái hình thức gọi là phù trần căn nhưng tịnh sắc không còn, vì không còn sử dụng ... vào việc gì cả. Hình thức của các giác quan như miệng, mũi, lưỡi chỉ có hình thức tượng trưng, có tính chất trang trí là chính ... Vì thế, bị xe đụng, dao chém trong mơ ... chỉ sợ chứ không sao cả.

Ngày nay, người ta tốn trên 2 tỷ USD để chế tạo ra xe tự hành. Xe này có khả năng đáp xuống sao Hỏa sau mấy tháng di chuyển trong không gian và hoàn tất quãng đường dài 12 phút theo vận tốc ánh sáng. Nhờ vào năng lượng nguyên tử rôbốt có thể vận hành khảo cứu lâu dài về sao Hỏa. Nhưng từ 2000 năm trước, Vi Diệu Pháp đã là cỗ xe tự hành, ít tốn kém, đã đi sâu vào trong tâm con người, cho ta thông tin về số lượng tâm, sắc, cảnh giới ... Có lẽ đây là phát minh quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại, một phát minh tìm ra chính mình, con người thật của mình và quan trọng hơn nữa là tìm ra tương lai cho thân phận con người.

Vi Diệu Pháp chính là tài liệu "Chiến lược vĩnh cửu vãn hồi hy vọng", giải thoát con người khỏi quyền năng của Thượng Đế. Được trang bị kiến thức và kỹ thuật VDP, con nguời trở thành một vị thần Titan dưới mắt Thượng Đế! Nói tóm lại, bạn và tôi chính là tự do, tôi và bạn tìm được chính mình qua lý thuyết và kỹ thuật thiền định vi diệu của VDP.



Còn tiếp...



Nhóm CTR



CTR




1. Dẫn nhập

Khi nói tới thần thông, người ta liên tưởng đến tu thiền định. Những tu sĩ Upanisad được phỏng đoán là những người tu thiền định đầu tiên, và do vậy thần thông đã là một đề tài quá cổ xưa; ít nhất cũng đã mấy ngàn năm qua.
Tuy vậy cho đến tận hôm nay, chủ đề này vẫn nóng, không những cho người tu mà cho cả các khoa học gia. Josephson là một khoa học gia và đã từng được giải thưởng Nobel vật lý, đã bỏ chuyên ngành của mình để bước vào nghiên cứu ngành tâm linh.

Tại sao ngành này lại có sức hấp dẫn như vậy? Lý do là vì đã qua nhiều ngàn năm với nhiều nỗ lực tìm hiểu nhưng người ta vẫn chưa tìm ra được câu trả lời. Bộ môn này trên thế giới không thể tìm được nguồn tài trợ, vì nhà tài trợ không biết dựa vào cơ sở khoa học nào để tài trợ. Có lẽ chỉ có vài chục nhà bác học được trả lương cho công việc khảo cứu bộ môn này. Và so với trên 7 tỷ nhân loại có mặt trên hành tinh thì số lượng này quả là quá khiêm tốn.
Những bộ môn liệt kê sau đây có bản chất tương tự như nhau. Tuy nhiên nếu chỉ nghe đọc tên thì chúng ta cảm thấy nó rất khác nhau:

   - Psychokinesis
   - Parapsychologgy
   - Supernatural  powers
   - Paranormal  powers
   - Kỹ thuật ảo thuật (Misdiretion technique)
   - Pouvoir  surnaturel (qui excede  les  forces de la nature)
   - Iddhi
   - Thần thông (Pouvoir surnaturel). Thần lực (Force magique) - Thần là thánh thần, là màu nhiệm, phi thường, tự tại, thù thắng, linh diệu, bất trắc không thể nghĩ bàn. Thông là vô ngại không có gì ngăn trở nổi, lưu thông tự tại. - Lực là sức mạnh phi thường (từ ngữ thần thông và thần lực được giải thích theo nguyên ngữ từ chữ Hán).

Những từ ngữ này nói chung mô tả những hiện tượng được gọi là khác thường. Những hiện tượng này được ghi chép lại từ một số tài liệu cổ xưa, mà đến nay người ta vẫn còn biết đến của hai trường phái Yoga và Phật giáo ... đặc biệt nhất là trường phái thiền định và Mật giáo Tây Tạng.
Người ta thường nghĩ những trường phái này có đầy vẻ huyền bí, cao siêu, thậm chí là phép thuật kỳ lạ đáng sợ ... kiểu như Milarepa đã tạo một trận "bão táp sa mạc" (phỏng theo huyền sử của đời ông). Nhưng trên thực tế, người tu thiền định, ngồi công phu từ 1, 2 năm cho đến 20, 30 năm ... kể cả Tam Tạng ngồi cả đời, chai cả bàn tọa ... chẳng đắc pháp thuật kỳ lạ gì cả; thế nên chỉ cần một tiểu yêu tinh cũng bắt được Ngài.
Ngay cả những Đàn pháp (Mandala) to lớn tốn kém, cũng chẳng thấy có gì nhiệm màu để người ta phải quan tâm. Trước kia đàn pháp được mô tả là chân truyền, huyền bí. Ngày nay vào thời đại @, có cả đàn pháp trên máy vi tính. Tất cả những chuyện trên đã khiến những người tu tập theo trường phái này, có người đã tu trên nửa thế kỷ, cũng đâm ra hoang mang mất phương hướng, chẳng biết giải quyết làm sao. Thôi thì phóng lao thì phải theo lao!

Việc này đã tồn tại trong nhiều thế kỷ - đúng hơn là đã mấy ngàn năm rồi. Ai cũng hy vọng có ngày tìm ra được câu trả lời. Chân lý vốn đơn giản. Nhưng có lẽ cũng chính tại con người lắm "mưu thần chước quỷ" nên tự hại chính mình. Lão Tử đưa ra chủ thuyết Vô Vi; còn chúng ta có lẽ cũng nên xem lại cách suy nghĩ, ứng xử của mình.

2. Những quan niệm khác nhau về thần thông

Có rất nhiều quan điểm chung quanh vấn đề này:

   - Không thừa nhận sự tồn tại của thần thông, thần lực. Nó tồn tại trái ngược với nền tảng khoa học mà con người thiết lập được từ thời Phục Hưng. Nếu công nhận sự tồn tại của nó, có nghĩa là bác bỏ những thành tựu khoa học của 300 năm qua. Nó đi ngược lại các quy luật vật lý như bảo toàn, dẫn truyền, tiêu hao năng lượng.
   - Thần thông, thần lực chỉ là mê tín dị đoan, không có thật khó kiểm chứng, sự thật là không thể kiểm chứng được. Không đáp ứng yêu cầu của luận lý hình thức.
   - Có người cho là trình độ khoa học hiện nay, không đủ khả năng để giải thích thần thông, thần lực. Vấn đề này nằm ngoài giới hạn của khoa học hiện hành.
   - Có người thì lại cố gắng sử dụng lý thuyết của khoa học hiện hành, thí dụ như tác giả Barbara Ann Brennen, cũng có những tác giả người Việt Nam, để lý giải thần thông.

   - Nếu đứng trên quan điểm của tôn giáo của trường phái phật giáo, thì người ta công nhận có thần thông và quan niệm rằng:
         * Thần thông là pháp tu rất cao và khó.
         * Thần thông không liên quan đến nhân quả

   - Có người cũng công nhận có thần thông, bằng cách sao chép những tài liệu nói về thần thông.
   - Rất nhiều người khác, tạm mô tả là tu hành có hình thức, thường đến một nơi thờ phụng tôn giáo nào đó, làm những nghi thức tôn giáo và họ chẳng biết gì về vấn đề thần thông. Nói chung là người ta thờ ơ với vấn đề này.

3. Liệt kê các loại thần thông

   Quý độc giả có thể tham khảo rất nhiều tài liệu về các cách liệt kê các loại thần thông như kinh Patanjali, Trung bộ kinh, Vi Diệu Pháp ... và còn nhiều tài liệu khác nữa.
   Để tiện việc nghiên cứu, tham khảo ..., chúng tôi xin được liệt kê một số - tạm gọi là khả năng thần thông. Phần liệt kê này, xin được chú thích thêm những từ ngữ chuyên môn để tiện cho quý độc giả khi có nhu cầu truy cập, tham khảo. Những từ ngữ sau đây có tiếng Việt, Anh, Pháp, Đức.

   Xuất hồn (Out of body experience)
   Thấu thị  (Clairvoyance)
   Thần giao cách cảm (Telepathy)
   Di chuyển đồ vật (Psychokinesis), kinh sách gọi là thần lực.
   Tiên tri (Precognition)
   Hậu tri (Retrolognition)
   Luân hồi (Reincarnation)
   Ma quấy rối (Poltergeist)
   Ma ám (Haunting)
   Và còn nhiều các thể loại khác.

4. Phân loại các hiện tượng thần thông

Chúng tôi tạm phân các hiện tượng thần thông ra làm 3 loại:   

- Các hiện tượng tự nhiên khách quan.
- Hiện tượng bị nhập, từ cá nhân đến tập thể (dedoublement du personnage - Nhị trùng bản ngã).
- Thần thông do con người tạo ra.

a. Hiện tượng tự nhiên khách quan: có nhiều vô số. Để tránh chìm đắm trong quá nhiều thông tin, ta chỉ nêu ra một số trường hợp nổi tiếng điển hình:

Chắc mọi người đều biết hiệu ứng Uri Geller. Uri Geller là tên của một người lính nhảy dù người Do Thái. Ông có khả năng bẻ cong chiếc muỗng bằng tư tưởng của mình. Năm 1974, trong một buổi trình diễn trên tivi, khán thính giả đang xem truyền hình tại nhà của mình thấy các vật dụng kim loại trong nhà cũng bị cong. Ông đi trình diễn khắp thế giới, gặt hái rất nhiều kết quả khả quan, kiếm được khoảng 1 triệu đôla.
Tuy nhiều ảo thuật gia cho màn biểu diễn đó chỉ là ngụy tạo, nhưng lại có những viện khảo cứu của những trường đại học tại Anh Quốc xác nhận hiệu ứng Uri Geller là có thật. Randi, một ảo thuật gia thì lại không công nhận. Năm 1996 Randi quyên góp được 670.000 đôla và nói sẽ thưởng cho ai có thể làm cong được chiếc muỗng. Tiền thưởng một ngày một tăng lên, nhưng cho đến nay chẳng có ai lãnh được cả.

Thông thiên học có kể đến bà Blavasky từng tạo ra một vật dụng dùng để ăn cơm, nửa giống muỗng, nửa giống nĩa không rõ ràng.
Quay trở lại hiệu ứng Uri Geller, có biết bao nhiêu bộ sách, bộ phim làm ra nhưng vẫn chưa có lời giải. Phải kể thêm một điều đáng gọi là kỳ lạ, Uri Geller được đăng lên trang bìa của một tờ báo cùng với lời cảnh báo "chỉ nhìn vào hình này thôi các vật kim loại cũng cong". Sau đó có 300 cuộc gọi điện thoại xác nhận việc cong các vật dụng kim loại.


Còn tiếp...

Nhóm CTR




CTR



Nhóm CTR chân thành cảm ơn quý độc giả đã dành thời gian để đọc và góp ý cho những bài viết của nhóm.
Bài viết sau đây xin dành để chia sẻ cùng bạn TCH và các bạn có cùng quan tâm


HIỆU ỨNG URI GELLER


Hiệu ứng Uri Geller thuộc nhóm PsychoKinesis (viết tắt là PK) hay là TeleKinesis (viết tắt là TK). Từ ngữ Psycho bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là tinh thần, linh hồn, tâm, hơi thở. Kinesis có nghĩa là chuyển động, vận động. PsychoKinesis nói nôm na là dùng tinh thần tác động lên vật chất từ xa: ví dụ như làm hư hỏng hay vận chuyển đồ vật, làm ảnh hưởng đến việc xuất hiện những con số của hột xúc sắc, hay những con số bất kỳ của những quân bài.
Có hai quan điểm của những nhà khảo cứu về vấn đề này:
- Cho là những hiện tượng này có hiện hữu đáng quan tâm để khảo cứu
- Phủ nhận những hiện tượng này. Vào năm 2006 có khoảng 360 cuộc khảo cứu nhưng không thấy có kết quả gì cả, hoặc có nhưng rất ít (very small effect). Người ta cho rằng đó chỉ là ảo giác do người thực hiện đã quá tin vào vào hiện tượng telekinesis nên tạo ra thành kiến.
Để khảo cứu người ta đã chia ra 2 loại đối tượng căn cứ vào kích cỡ (size) của vật chất:

1. Vi vật chất: gồm phân tử, nguyên tử, hạ nguyên tử (micro TK)
2. Vật chất tầm cỡ lớn (macro TK)

Có rất nhiều người tuyên bố tương tự như Uri Geller (1946) như các tu sĩ Ấn Độ (Godmen), Martin Caidin (1927-1997), Swami Rama (1925-1996)....
Những người này thường tuyên bố có những khả năng làm những việc sau đây:

Phi trọng lực (Self Levitation): nghĩa là làm mau hay chậm đi giao động của nguyên tử. Việc này làm ảnh hưởng tới thành tích của thể thao, đánh bài, tuyển cử, kéo dài cuộc sống (prolongation of life), chữa bệnh (healing), biến hóa (metamorphosis). Họ có thể kiểm soát được quang tử, kiểm soát được trường điện từ, kiểm soát được từ trường và còn vô số chuyện khác.

Một cuộc thăm dò vào tháng 9/2006 tại Hoa kỳ cho kết quả 28% phái nam và 31% phái nữ tin vào hiện tượng PK.

Đứng trên quan điểm của khoa học thì người ta cho rằng những chuyện này vi phạm nghiêm trọng những định luật của vật lý như nguyên lý bảo toàn năng lượng, nguyên lý bảo toàn động lượng. Có nhà vật lý còn cho rằng đó là khoa học giả hiệu mê tín.
Người ta cũng từng đưa ra nhiều giải thưởng để thách thức xem có ai có thể tạo ra được những hiệu ứng nói trên. Thương gia Geral Fleming đưa ra giải thưởng 250.000 USD, quỹ giáo dục của Randy treo giải thưởng 1.000.000 USD. Số tiền rất hấp dẫn nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai đoạt giải.

Riêng về quan điểm cá nhân của CTR về vấn đề này thì như sau:

Căn cứ vào tài liệu Vi Diệu Pháp (lại là VDP  ;) ;) ;)) và căn cứ vào thực tế đã từng tập luyện qua thì việc này không thể thực hiện được ở cảnh thế gian dục giới. Nhưng lại hoàn toàn có thể thực hiện được ở hệ thống thiền hữu sắc. Có lẽ bắt nguồn từ việc không hiểu rõ về sự khác biệt giữa 2 cảnh giới là dục giới và thiền hữu sắc, cho nên người ta cứ cố gắng làm một công việc không mang tính khả thi. Những quý độc giả nào thực chứng thiền định thì sẽ phân biệt được các thao tác của cảnh giới thế gian dục giới với thao tác của cảnh giới thiền hữu sắc. Điều này dĩ nhiên nằm ngoài tưởng tượng của các khoa học gia không bao giờ hành thiền.
Chúng ta cũng nên cảnh giác với những hiện tượng PK giả hiệu, thí dụ như để tay gần 1 tờ giấy trong vị thế thăng bằng, tờ giấy này bị nghiêng đi. Hiện tượng này là do bàn tay phát ra nhiệt lượng làm chênh lệch áp suất, chứ không phải là hiện tượng PK.

Chính vì những lý do trên, nhóm CTR xin mạn phép sắp Uri Geller là hiện tượng khách quan tự nhiên; hay nói đúng hơn là hiện tượng chưa xác định được (Unidentified Effect).

Trong bài "khủng hoảng sắc trong hệ thống thiền định hữu sắc" của nguyên tắc búp bê Matryoskha phần tiếp theo, chúng tôi sẽ phân tích chi tiết thêm về: "Sự khác biệt sắc giữa định dục giới và định hữu sắc".



Một lần nữa, nhóm xin cảm ơn bạn TCH đã đặt câu hỏi và cảm ơn quý độc giả.


Nhóm CTR




CTR

#23


Chúng ta đã biết từ thủa Sakya Muni và mãi cho đến sau này là Thiền định đem đến sự minh triết. Chúng ta biết được sự thật và thừa nhận có nhiều thực thể ở nhiều cõi, nhiều cảnh giới khác nhau. Khái niệm Thượng Đế là sản phẩm tưởng tượng do con người đẻ ra. Sau đó ta lại dùng sản phẩm này để dọa dẫm mọi người, cũng như dọa dẫm chính mình ! ... Các tôn giáo hay dùng khái niệm là có sứ giả, nhà tiên tri (một hình thức như bộ trưởng ngoại giao) của Thượng Đế được mặc khải (revelation) đến báo tin - Thực sự là một hình thức ủy nhiệm thư theo ngoại giao ngày hôm nay.

Con người bị lầm lẫn vì kịch bản có vẻ chính qui, từ ngữ có vẻ chính thức ... Với mặc cảm tự ti bẩm sinh, con người công nhận Thượng đế để bù đắp nổi lo âu, sợ hãi vốn có của mình. Thật sự chúng ta có gặp được người nào nói họ đã từng gặp Thượng Đế bao giờ đâu?

Trong giới "giang hồ thiền định" đầy hiểm ác, thì chắc chắn ai tu tập thiền định cũng muốn có được bí kíp "Vi Diệu Pháp chân kinh". Trong truyện kiếm hiệp nổi tiếng "Tiếu Ngạo Giang Hồ", Nhạc Bất Quần dù đoạt được Tịch tà kiếm phổ, nhưng phải "dẫn đao tự cung" (tự thiến mình) để luyện. Cách tập luyện theo Vi Diệu Pháp chân kinh thì không đến nỗi phải "vung tay tự thiến - xưng hùng thiên hạ", nhưng cũng phải dùng đến gươm, dao theo một cách khác là:

         Gươm trí tuệ đoạn dứt vô minh
         Dao từ bi đến bờ giải thoát.


Chính vì lẽ "Kẻ thù lớn nhất trong đời là chính mình"

Định dục giới và định hữu sắc:
Nhập định là vấn đề cốt lõi của Thiền định. Nhưng định dục giới và định hữu sắc giống nhau hay khác nhau?
Sau đây chúng ta thử tìm hiểu xem thực sự định dục giới và định hữu sắc có đơn giản như xưa nay người ta vẫn thực hành hay không?

Vấn đề phải đặt ra ngay đầu tiên:
Sắc là một thuộc tính của thế gian, nghĩa là của cảnh dục giới.
Nhưng Sắc cũng thuộc về thiền hữu sắc, thế là sao? Vậy sắc thật sự là gì?

Đây là việc rất cơ bản và cần phải làm rõ. Khi thực hành thiền định mà không hiểu rõ mình đang làm gì thì sanh ra tâm nghi. Nghi là một bất thiện pháp cơ bản quan trọng. Nghi còn là một trong mười phiền não, có tâm này thì không thể nhập định được. Đây là quan điểm của tinh thần truyền thống Vi Diệu Pháp. Người ta đã không có câu trả lời cho vấn đề này suốt 25 thế kỷ. Chúng ta cần phải tìm ra câu trả lời có trách nhiệm, khoa học, nghiêm chỉnh, đáng tin cậy, có cơ sở thật sự và mang tính chất thực dụng và hiệu quả cho kỹ thuật thiền định của hệ thống thiền hữu sắc.

Theo tài liệu VDP chương 6 với đầu đề là RUPA thì sắc có 4 phần:
    a. Phân loại các sắc pháp
    b. Sắc sinh khởi
    c. Tổng hợp các sắc
    d. Diễn biến sắc pháp

Chúng ta thử tóm lược về sắc:
Sắc là cái gì luôn luôn biến động, chỉ chung các sắc pháp và chỉ riêng đối tượng của con mắt. Rupa là hình tướng và màu sắc.
Tóm lại có tất cả là 28 sắc pháp: Ðại-chủng 4, Tịnh sắc 5, Hành-cảnh sắc 4, Bản - tánh sắc 2, Tâm-cơ hay Tâm-sở-y sắc 1, mạng sắc 1, Thực sắc 1, cộng là 18 sắc. Lại thêm 10 phi-sở-tạo sắc là Hạn-giới sắc 1, Biểu sắc 2, Biến-hóa sắc 3 và Tướng sắc 4.

Diễn biến sắc pháp
    a. Do nghiệp lúc mới gá sanh.Hậu quả của 25 loại tâm trong quá khứ:12 bất thiện tâm cộng với 8 thiện tâm thuộc dục giới và 5 thiện tâm thuộc sắc giới.
    b. Tâm từ sát na thứ 2 sanh ra sắc pháp
    c. Thời tiết cũng sanh ra sắc pháp
    d. Thực phẩm khi tiêu thụ cũng sanh ra sắc pháp

Khi lâm chung đến sát na thứ 17 của tử tâm, các sắc pháp chấm dứt. Thời tiết chấm dứt khi thi thể hoàn toàn phân hủy.

Số lượng sắc pháp ở các cảnh giới
    a. Dục giới: có 28 sắc pháp
    b. Sắc giới: 23 sắc pháp.
         - Không khởi lên là: mũi, lưỡi, thân, tánh sắc
         - Những cái khởi lên: mắt, tai, tâm sở ý, mạng căn. Có các sắc pháp do tâm và thời tiết sanh.
    c. Vô tưởng thiên: Chỉ có 17 sắc pháp. Mắt, tai, tâm sở ý. Có các sắc pháp do thời tiết sanh. Không có các sắc pháp do tâm sanh.
    d. Vô sắc giới: Không có sắc pháp nào cả.

Phần trình bày trên đây có thể là một loại kinh vô tự đối với một số quí độc giả, vì khi đọc không hiểu nói gì cả.
Có thể giải thích lý do như sau: chúng ta muốn có một cái gì, thì cũng phải bỏ ra một cái gì. Có lẽ đây là định luật của trời đất. Lopsang Rampa từng nói "In order to get, you must give". Thật vậy, đối với một số quí độc giả khác thì lại thấy đây là bí kíp, đây là chân kinh, đây là câu trả lời cho câu hỏi mà mình đã bỏ ra cả đời để đi tìm.

Chúng ta thử đan cử một số thí dụ mà người tu thiền định thường gặp, nhưng có lẽ không ai hiểu tại sao cả ... Lúc công phu chúng ta nhắm mắt, có lẽ ai cũng vậy cả. Chúng ta từng gặp rất nhiều các chư vị khác nhau, nhưng chúng ta hoàn toàn bất lực trong việc xác định họ thuộc cảnh giới hay cõi giới nào, vì chúng ta chẳng có một tiêu chuẩn nào để đánh giá.

Thông thường nhất người ta lẫn lộn cảnh dục giới với cảnh sắc giới, cách phân biệt như sau: Chúng ta nên nhớ lại, dục giới là có đủ 28 sắc pháp. Tuy nhiên, còn tùy thuộc vào cách phối hợp các sắc pháp, tùy thuộc vào sắc pháp nào chiếm ưu thế, sắc pháp nào không chiếm ưu thế.

Cảnh thiên của dục giới thì sắc pháp tế nhị hơn nên chúng ta không nhìn thấy được (Tâm sanh ra thân, Tâm khác thì sắc pháp khác, tất nhiên thân phải khác. Do đó, chúng ta quan sát con người chẳng ai giống ai, cụ thể là dấu tay người ta khác nhau). Thực thể của cảnh thiên dục giới  thường có những hoạt động, quần áo thì nhiều màu sắc, điều đáng lưu ý là có nam, có nữ rất dễ phân biệt.

Do đó, khi nhập định thực sự, ta hay gặp một số chư vị, trang phục màu sắc không rõ ràng, họ cũng có những bộ phận: mũi, thân ... nhưng không dùng được, vì thực sự các bộ phận này không có việc để dùng. Chúng ta vẫn giao tiếp bình thường, có nói chuyện qua lại, nhưng các vị đó và cả chúng ta đều không mở miệng, nhưng vẫn hiểu được nhau, một điểm nữa nên chú ý, cử chỉ của họ nhẹ nhàng, tế nhị, khoan thai ... ít cử động, có khả năng các vị thuộc cảnh sắc giới.

Đây có phải là hoang tưởng hay là ảo giác không ? ... khi xuất định, chúng ta làm những công việc mà mình và vị đó đã trao đổi, thực tế này chứng minh cho ta thấy đây không phải là hoang tưởng, hay mơ màng ... Thực tế có nhiều chi tiết chính xác, chúng ta có thể kiểm chứng được trên thực tế vật chất.
Người viết bài này đã có kinh nghiệm thực tế là trong lúc nhập định, đã được chỉ dẫn là đi đến một nơi ở tại Sài Gòn, mà mình chưa hề đến bao giờ, gặp một người được báo trước lấy để một tài liệu vật chất là đàn pháp "Quán âm tự tại". Khi thực sự cầm đàn pháp này trong tay, mình còn tưởng mình là mơ.
Việc này thường xẩy ra cho người tu thiền định. Chính đề tài sắc pháp đã giúp chúng ta hiểu rõ họ thuộc cảnh giới nào ... tránh lầm lộn với các vong linh cho chúng ta một cái gì đó và cũng đòi hỏi chúng ta phải đáp lại một cái gì đó.

Xin phép được nhắc lại một lần nữa về hiện tượng giấc mơ:

Hiệu ứng nêu trên có thể xẩy ra với đại đa số mọi người trong lúc nằm mơ. Chắc chắn chúng ta ai mà chẳng mơ. Diễn tiến có thể là một kịch bản như sau: chúng ta có thể bất chợt đến một nơi nào đó, thậm chí là bay lúc cao, lúc thấp đến một nơi nào đó, nhưng chúng ta đều không thấy thân xác của mình, chúng ta giao tiếp với những thực thể không xác định được, chúng ta định nói nhưng không nói được, chúng ta không thấy mùi vị ... có khi gặp các tai nạn vô cùng khủng khiếp, chúng ta chỉ ú ớ không nói nên lời, sau đó tỉnh dậy thấy mình không sao.

Sắc pháp giải thích như sau: như chúng ta đã biết có 4 yếu tố sanh ra sắc pháp. Tâm ta lúc nằm mơ đã thu nhỏ lại, do đó sắc pháp cũng thay đổi. Do định luật tương ưng, như đã được trình bày trong những bài viết trước, chúng ta đến những cảnh giới hữu sắc, khả năng thuộc dục giới, tương ứng với cấu tạo tâm của mình. Chúng ta không có thân, không có mũi ... do đó chúng ta có thể đi qua bức tường, bay lúc cao lúc thấp.

Theo Vi Diệu Pháp thì chúng ta có bao nhiêu loại mắt? - Xin thưa có 5 loại mắt, điều này đối với khoa học ngày hôm nay thì hoàn toàn bất lực. Khoa học ngày nay quan niệm về cái nhìn (vision) như sau: Chúng ta chỉ thấy chính xác là ánh sáng (light, và bản thân ánh sáng là lưỡng tính sóng hạt), một vật là nguồn sáng, một vật là phản chiếu ánh sáng, mắt chỉ là một công cụ quang học giúp tiếp nhận hình ảnh, sau đó đưa vào não để xử lý, nếu não bị hư hỏng ở phần nhìn và hiểu, thì chúng ta chẳng thấy, chẳng hiểu gì cả.

Theo tài liệu VDP, có đến 5 thứ nhãn:
         1. Nhục nhãn: của xác thịt.
         2. Thiên nhãn: của chư Thiên, của người tu thiền định.
         3. Huệ nhãn: trí huệ.
         4. Pháp nhãn: trí huệ.
         5. Phật nhãn: bao gồm các loại nhãn kể trên.

Thực sự mà nói, có bao nhiêu loại Tâm thì có bấy nhiêu loại nghiệp lực. Có bao nhiêu loại sắc, thì bấy nhiêu loại mắt. Do đó, chúng ta thấy mắt con người chẳng ai giống ai.

CÔNG THỨC BÚP BÊ MATRYOSHKA VÀ SẮC

    Búp bê số 1: Sắc của dục giới
    1. Đối tượng quán tưởng: đối tượng là sắc pháp đầy đủ (28 sắc pháp).Dùng để quán tưởng khi thiền định: lúc mở mắt để nhìn gọi là sơ tướng; khi nhắm mắt thì gọi là thô tướng.
    2. Phương tiện để quán tưởng: Là nhục nhãn, là mắt thịt. Ở trạng thái mở mắt và nhìn thấy vật chất gọi là sơ tướng. Ở trạng thái nhắm mắt thì tưởng tượng ra thô tướng và quang tướng. Đây là hình ảnh (image) do tưởng tượng, khác với ở trên là nhìn thấy vật chất của một vật.
    3. Chủ thể quán tưởng: Con người bình thường có cấu tạo trên 200 tâm và 28 sắc pháp.
    4. Môi trường thực hiện: Là dục giới.
    5. Mục đích: Nhập định.
    6. Công cụ: Kỹ thuật thiền định của VDP


      
    BÚP BÊ SỐ 2: Sắc của sắc giới.
    1. Đối tượng quan sát: Sắc vi tế, chỉ có 23 sắc pháp. Quang tướng là sắc pháp dùng làm đối tượng để quán tưởng.
    2. Phương tiện quán tưởng: Thiên nhãn, nhắm mắt chỉ thấy hình ảnh.
    3. Chủ thể quán tưởng: Là con người bình thường, tự bỏ đi một số sắc pháp là các giác quan vốn có, ở trong trạng thái nhập định, có ít hơn 50 tâm.
    4. Môi trường: Là sắc giới.
    5. Mục đích: Định hữu sắc.
    6. Công cụ: Kỹ thuât thiền hữu sắc của VDP
Tiến trình thiền định này mang mầu sắc của chủ nghĩa đào thải tự nhiên. Đây chính là chủ nghĩa Darwinisme. Một sự trùng hợp khá kỳ lạ của hai chủ nghĩa Duy vật và Duy linh.

             

PHỤ LỤC ĐỂ GIẢI THÍCH VỀ SẮC

Giải thích VDP và đem những kiến thức này ứng dụng vào thiền định là một công việc "lành ít, dữ nhiều" và khả năng "thân bại danh liệt" là rất cao. Có lẽ đó là một công việc ngây thơ và ngớ ngẩn. Trải qua suốt chiều dài của lịch sử, phần đông người ta chỉ làm công việc sao chép các bảng thống kê, thêm bớt chút ít, rồi viết tên vào thế là xong. Công việc này tuy mất công nhưng ít nguy hiểm và có thể gọi là "lành" nhất.

Cũng giống như lý thuyết tương đối của Einstein, muốn hiểu được lý thuyết này thì kinh nghiệm sống hằng ngày không giúp gì cho chúng ta cả. Ngược lại nó còn làm trở ngại trong công việc tìm hiểu, học hỏi lý thuyết tương đối. Việc này cũng xẩy ra tương tự như tìm hiểu và học tài liệu VDP. Điều này quý độc giả sẽ nhận biết ra khi đọc phần sau của bài viết.

Sắc là gì? Nói một cách nôm na thì sắc là vật chất. Chúng ta chọn từ ngữ này để cho dễ hiểu, nhưng từ ngữ vật chất này không thể hiểu hoàn toàn giống như chúng ta từng học ở trong trường. Vật lý học cho chúng ta biết là thế giới vật chất được xây dựng lên do khoảng 117 nguyên tố. Căn cứ vào mô hình chuẩn thì vũ trụ được tạo dựng nên do 3 hạt hạ nguyên tử Lepton, Quart, Higgs ... Higgs tạo ra vật chất cho các hạt khác.

Sắc lại cho chúng ta một khái niệm hoàn toàn khác. Thế giới vật chất chúng ta được cấu tạo bởi 28 yếu tố, gọi là 28 sắc pháp với khoảng 21 kiểu phối hợp. Khái niệm này không thể kiểm chứng được nhưng khi đem ứng dụng vào thực tế trong nhiều trường hợp lại tỏ ra rất hữu dụng. Kiến thức này có thể giải thích một cách có hiệu quả một số trường hợp nêu sau:
    a. Rất có thể quý độc giả trong lúc thiền định gặp rất nhiều thực thể, chủng loại đa dạng về sắc, rất khác con người. Có thực thể có 3 đầu, có thực thể chỉ là một đống thịt.
    b. Nếu chúng ta giả thuyết là có ma (rất có thể quý vị độc giả đã từng gặp rồi), thì sắc tướng của ma cũng rất đa dạng. Theo lời kể, thì chẳng có ma nào giống ma nào. Mặt khác, ma hãy dọa dẫm người ta. Hiện tượng này chứng tỏ cấu  tạo tâm của ma chẳng khác gì cấu tạo tâm của con người đang sống. Có khác chăng chỉ là cấu tạo sắc pháp khác nhau mà thôi.
    c. Khi mơ, mình vẫn biết mình là mình, suy nghĩ không khác, kiến thức không thay đổi, chứng tỏ cấu tạo tâm không khác là bao nhiêu. Tuy nhiên, cấu tạo sắc pháp lại hoàn toàn khác, chúng ta không thấy thân xác mình, không nói được, không làm chủ được các cử động, một người từng học võ trong mơ lại không có khả năng đánh võ.

Nguồn gốc của vật chất khác hẳn những gì chúng ta học tại nhà trường. Theo truyền thống VDP thì nghiệp, tâm, môi trường, thực phẩm, ... tạo ra sắc pháp. Nghiệp và tâm tuy vô hình vô ảnh nhưng lại có khả năng tạo ra sắc pháp (chúng ta nhớ lại trường sanh ra chất. Năng lượng sanh ra khối lượng). Nghiệp tạo ra gần như toàn bộ con người và vật chất, tâm tạo ra thân, miệng và lời nói.



Nhóm CTR







CTR





Kính thưa Thầy, Admin cùng tất cả các bạn đồng tu của diễn đàn,

Nhóm CTR quyết định viết vài dòng để chia sẻ cùng các ACE diễn đàn. Từ ngày nhóm xuất hiện, đăng bài trên diễn đàn, đã có nhiều ý kiến đồn đoán về "lý lịch" cũng như trình độ tu tập của nhóm. Đầu tiên nhóm CTR xin xác nhận nhóm là đệ tử của Thày Tibu, là anh em đồng tu của các bạn; yêu mến, kính trọng Thày Tibu và HSTĐ ít nhất cũng là ngang bằng với các bạn.

Số là vào thời gian thực hiện pháp âm, một cuộc gặp gỡ "định mệnh" đã xảy ra giữa nhóm và người anh Cả của nhóm hiện nay. Trong một lần nhập định từ 30 năm về trước, người anh Cả đã trông thấy người nhỏ tuổi nhất của nhóm sẽ làm công việc hiện nay chung với mình; và lần nhập định gần đây nhất anh đã thấy được thành viên thứ hai. Nhóm CTR không tu tập giỏi hơn bất cứ ACE nào của DĐ, nhưng sự đưa đẩy của duyên nghiệp đã khiến nhóm trở thành một đường dây truyền tải những bài pháp từ người anh lớn của nhóm đến HSTĐ. Cũng xin trình bày cùng các bạn là việc quyết định chọn nơi để đăng tải những công trình khảo cứu của anh là do nhóm CTR, chứ không phải của anh.

Nhóm muốn chân thành xin lỗi các ACE của diễn đàn nếu những bài viết này không làm các bạn hài lòng. Xin các bạn nhớ lại một sự thật của cuộc sống là không có một chiếc áo nào dù fashion nhất thế giới có thể đẹp với tất cả mọi người. Thời trang còn vậy, huống gì kiến thức ! Riêng với cá nhân của nhóm, thì lại thấy mình may mắn và hạnh phúc để có dịp biết tới những "tuệ giác" này. Hạnh phúc không thể giữ riêng cho bản thân mà nó cần trao tặng, nhất là trao tặng cho những người đang đồng hành với nhóm trong quá trình tu tập để cùng nhau hoàn thiện. Vậy nên sau nhiều cố gắng của nhiều người; mà theo Thầy Tibu đó chính là "năng lực của tình thương", những bài pháp đã có cơ hội xuất hiện trên DĐ.

Những việc nhóm làm không là gì cả về mọi mặt, so với những nỗ lực của người anh lớn này; người đang cống hiến tới các độc giả những gì tâm huyết của cả một đời tu tập. Bậc giác ngộ thường hành động do lòng từ tâm và tùy duyên, chứ không phải để phát triển cái ngã và tìm cầu sự nổi tiếng. Thế nên thể theo sự yêu cầu của anh, nhóm đã không thể cung cấp tên của anh trên diễn đàn. Nếu người anh Cả của mình đã là như vậy, thì các thành viên khác của nhóm đâu có tư cách gì để viết tên mình là ai, ngoại trừ một người vì muốn giữ bản quyền bài viết.

Nhóm CTR đang có trong tay mình kho tư liệu của thực chứng và đặc sắc nhất là phần diễn giải và ứng dụng Vi Diệu Pháp trên lộ trình tu tập. "Bí kíp" này sẽ được tiếp tục chia sẻ, trao tặng, bao nhiêu cho ai và ở đâu thì lại tùy vào những người tiếp nhận ở nơi đó. Âu cũng là thuận theo nhân duyên của sự việc! Một lần nữa, nhóm xin đặc biệt cảm ơn Thầy Tibu đã chấp thuận cho những đệ tử của Thầy đăng những bài viết này. Cảm ơn Admin vô cùng vì đã nhiệt tình giúp đỡ nhóm. Cảm ơn quý độc giả đã dành thời gian đọc bài, đặt câu hỏi và góp ý cho nhóm.

Cuối cùng cũng xin chân thành xin lỗi các bạn một lần nữa nếu những bài viết này đem đến những cảm xúc phiền não, sân giận, khó chịu. Điều này hoàn toàn nằm ngoài mong muốn của những người thực hiện. Lỗi này thuộc về CTR chứ không thuộc về người anh Cả đáng kính trọng của nhóm.

Trân trọng


Nhóm CTR



CTR


Nhóm CTR xin cảm ơn huynh Vuhanp đã thông cảm và dời bài viết. Xin qúy độc giả cảm phiền vì phần trả lời của huynh Lengoctao27 nằm xen vô chính giữa các bài viết của nhóm; lỗi do nhóm CTR quên để link cho phần reply.



Sau đây là phần cuối của bài viết về Thần Thông

Việc nhìn thấy hào quang của con người hay các sinh vật, từ xưa vốn được coi là một đặc sản của các tu sĩ. Nhưng kể từ năm 1939 thì việc đó đã hoàn toàn thay đổi. Một kỹ sư người Nga tên Kirlan, trong khi sửa chữa máy điện cao tần, ông bị phóng điện. Ông nảy ra tư tưởng chụp hình các vật để trong điện trường cao tần và các vật đã phát ra hào quang. Hiệu ứng này sau đó được mang tên ông, gọi là hiệu ứng Kirlan.

Người ta giải thích hiệu ứng như sau: khi đặt một vật trong điện trường cao tần, thì vật đó cũng hấp thụ và phản xạ. Năm 1950 ông được cấp kinh phí để xây dựng phòng thí nghiệm. Năm 1970, George Hadjo, người Anh, phát minh ra máy chụp hào quang, phát minh này nói lên phần nào hiện tượng hào quang mà các tu sĩ từng nhìn thấy. Tuy nhiên, việc chẩn trị bằng hào quang như Lobsang Rampa từng nói tới trong những bài viết của mình, thì khoa học chưa xác định được .

Vấn đề khí công hay còn gọi là nhân điện ... của những thầy chữa, võ sinh, người tu thiền định, rất ít người có được. Một cuộc thử nghiệm tại Đại học Showa Tokyo, tỷ lệ 3/37 người có khả năng phát được tín hiệu. Người ta đo được từ 3 cho đến 4 miligauss. Ngoài ra còn ghi nhận được bức xạ nhiệt sau khi phát công, khoảng từ 20 đến 30 phút, nhiệt độ ghi nhận được ở bàn tay từ 40 C đến 60C.

     - Những con voi có khả biết trước có sóng thần.
     - Chó biết trước chủ về, mặc dù còn cách rất xa.
     - Chim, bướm di trú nhiều ngàn cây số.
     - Thôi miên được coi như hiệu ứng Mesmer vì ông đã tìm ra nó, rồi sau đó là Jean Charcote, Sigmund Freud cũng tham gia vào vấn đề thôi miên năm 1885. Đến nay người ta vẫn không hiểu, không có một lý thuyết nào đáng tin cậy để giải thích về hiệu ứng thôi miên. Vì vậy thôi miên hay tác pháp vẫn còn là ẩn số.

b. Hiện tượng bị nhập từ cá nhân đến tập thể (Dedoublement du personnage: Nhị trùng bản ngã) Chúng ta sẽ đề cập tới 3 vấn đề:

     - Tại sao bị nhập ?
     - Ai nhập vào con người?
     - Nhập vào để làm gì?

Tại sao bị nhập?
Vấn đề này đã được đề cập đến rất nhiều trong những bài viết trước. Chúng ta có thể đưa ra một mô hình phản biện khá đơn giản: có một chư vị bất kỳ nào đó thích tìm cách nhập vào thân xác của một người, mà người đó giữ 4 giới cơ bản: sát, đạo, dâm, vọng không? Tại sao các chư vị lại không thích nhập vào? Mong quí độc giả tự tìm câu trả lời. Chúng ta có thể phát biểu gần như là một công thức sau đây: Hiện tượng bị nhập xảy ra khi dục vọng của người tu thiền định hay pháp môn nào đó tương thích với dục vọng của một thực thể muốn nhập. Một cách bình dân mà nói thì đó là "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã".

Tu bất cứ trường phái nào mà giữ giới, giảm thiểu dục vọng, thì chẳng có thực thể nào muốn nhập cả. Thật thế, nhập mà chẳng thỏa mãn được dục vọng nào cả; chẳng hạn như thỏa mãn cái tôi, được người khác xưng tụng bằng cô, cậu ..., biết chữa bệnh mà chẳng học trường y khoa nào cả, chỉ bảo tu hành, nhưng không chỉ bảo giữ giới ... như thế thì nhập có được ích lợi gì? Nói tóm lại, việc bị nhập là "dục vọng lại gặp dục vọng - đó là sự đồng thuận của đôi bên", chủ nhà mà không muốn, không mời thì không ai có thể vô nhà mình được. Hơn thế nữa, có người còn cảm thấy thích thú vì có người nhập vào mình.

Ai nhập vào con người?
Số lượng thực thể có khả năng nhập vào con người không thể kể hết. Thí dụ như Thần quyền, Phật quyền, cầu mong có sức mạnh khác thường để đánh thắng người khác. Rất có thể các vong linh là các súc sanh, do định luật tương ưng đã nhập vào mình. Có người thích chữa bệnh như Barbara Ann Brennen và bị các thực thể là các thầy chữa nhập vào. Chính bà đã xác định điều này. Có người thích viết sách về những chuyện huyền bí như Blavasky thì có các vị chân sư nhập vào.

Có 1 cách chủ quan để phân biệt nếu quí độc giả đã đọc bài nói về SẮC. Chỉ cần căn cứ vào số lượng sắc, thì chúng ta có thể phân biệt được một cách chính xác các cảnh giới, không lầm lộn cảnh giới này với cảnh giới khác. Nếu người học Thần quyền cho rằng Phật nhập vào mình, thì có lẽ quá ngây ngô và ngớ ngẩn!

Nhập vào để làm gì?
Không cần nói quí độc giả cũng biết, ở những cảnh giới có hiểu biết cao hơn con người chúng ta, thì họ chẳng dại dột gì lại sử dụng thân xác vật chất. Chúng ta có bao giờ nghe nói một vị nào đó ở cảnh tu thiền hữu sắc trở lên, mà lại nhập vào xác con người không? Trước nhất, cảnh giới này do trình độ thiền định phát triển hơn con người rất nhiều, phần nhãn thấu suốt nhiều vấn đề, cảnh giới gần như không còn khổ đau, thì một logique đơn giản là nhập vào thân xác con người liệu có lợi gì?

Lá thư sau đây là bản tin thời sự mới nhất (ngày 16/8/2012), mời quí độc giả tham khảo và ứng dụng những gì mà bài viết này nói về vấn đề nhập. Chúng tôi không dịch để giữ tính chất trung thực, kèm theo cả "hình minh họa"
(an image of what these aliens look like)



They "repair" him, he never gets sick, but they do many painful and ugly things to him ... like putting their hands into his stomach or his head. He told me that he sometimes managed to kill some aliens. He can also withstand their paralysis ... so I want to ask you to find out what these beings want from him and why they always visit him every night and visit any person that are his frienda or family. I also sent you an image of what these aliens look like.

c. Thần thông do con người tạo ra

Đối với các hiện tượng thiên nhiên trong giai đoạn bình minh của lịch sử, tổ tiên của loài người cảm thấy quá nhỏ bé trước các thảm họa thiên nhiên: sấm, chớp, lụt bão v.v... Con người có thể có 3 khả năng sau đây:

     1. Do kém hiểu biết, sợ hãi, van vái cầu xin các vị Thần Sấm, Thần Sét ... có thể đó là nguồn gốc của Đa thần.
     2. Kỹ thuật đẻ ra do yêu cầu của cuộc sống, vào hang động tránh mưa gió, chế tạo vũ khí để tự vệ và săn mồi.
     3. Có những người lại nghĩ ra cách khác, không chống lại thiên nhiên. Ngược lại, họ hòa nhập vào thiên nhiên. Có lẽ lịch sử của thiền định đã bắt đầu như thế. Với việc tĩnh tọa, trầm tư mặc tưởng về điều gì đó, bỗng nhiên họ rơi vào trạng thái nhập định. Thế rồi cùng với chiều dài lịch sử, kỹ thuật thiền định dần được cải tiến, phát xuất từ thực nghiệm. Do đó, nếu chúng ta nghiên cứu thực sự những tài liệu cơ bản, sẽ phát hiện ra những lời nói được gọi là kinh, phát xuất từ kinh nghiệm. Sau đó lý thuyết được xây dựng dựa trên chính kinh nghiệm thực tế đó. Công thức của trường phái Phật giáo, cũng như trường phái Yoga, thực sự chỉ là những bản photo. Tiến trình nhập định hoàn toàn giống nhau:
     - Raja Yoga: Dharana, Dhyana, Samadhi
     - Phật giáo: Tầm, Tứ, Nhất tâm

Sau đây là công thức tu thiền định:
     - Raja Yoga: Kỷ luật bản thân, Kiểm soát tinh thần, Tham thiền nhập định
     - Phật giáo: Giới, Định, Huệ

Lúc nào thì thần thông xuất hiện?
     - Raja Yoga: Samyama gồm 3 bước: Dharana, Dhyana, Samadhi. Thần thông xuất hiện ở giai đoạn Samahdi.
     - Phật giáo: Cũng không khác gì Raja Yoga. Thần thông là hệ quả tất yếu của Tứ thiền hữu sắc.
Lúc này người tu thiền định có 1 loại thân xác gọi là hữu sắc của hệ thống thiền hữu sắc. Ở hệ thống này, tâm và thân của người tu thiền định hoàn toàn khác với lúc mới ngồi để bắt đầu thiền định.

Chúng ta thử thuyết minh cho rõ phần này:
     Thân tâm lúc ngồi để tu thiền định: Tâm cấu tạo bằng nhiều trăm tâm. Thân có ít nhất 28 sắc pháp. Thân Tâm này cần phải ăn ngủ để tồn tại, sử dụng trong cảnh Dục giới, cảnh Thế gian, trong các cử động vật chất và trong các cử động tinh thần.
     Thân của thiền Hữu sắc: Tâm chỉ còn 50, giảm xuống còn 2, 3 tâm. Thân chỉ còn 23 sắc pháp hoặc ít hơn nữa. Nếu vô tình bước vào Vô tưởng định, số sắc pháp còn ít hơn nữa, thân này sống bằng hỷ lạc (không phải là thực phẩm, nước uống, không khí). Sắc pháp tế nhị, hình dáng lờ mờ, lúc có lúc không. Cụ thể không có thân, không có miệng, mũi, có khi không có mắt (vì không cần nhu cầu thực phẩm, nước, không khí). Thân tâm này sử dụng trong cảnh hữu sắc, đôi khi là Vô tưởng, các động tác của loại thân tâm này chính là cái người ta gọi là "thần thông".
   
Sẽ là một sai lầm rất lớn nếu người ta tưởng các thần thông là cử động của thân tâm dục giới. Thật vậy, khi ngồi công phu, sau khi thật sự nhập định, chúng ta có thể đi từ nơi này đến nơi kia nhanh hơn cả vận tốc ánh sáng, chúng ta có thể đi xuyên qua tường, xuyên qua cửa một cách vô ngại, nói không dùng miệng, không có âm thanh mà vẫn hiểu rõ ràng, không gian xa gần không trở ngại, biết quá khứ vị lai, hiểu được tâm ý dễ dàng ... Những động tác tinh thần và sắc nói trên của thực thể thiền hữu sắc chỉ là những động tác bình thường, cơ bản, bền vững, chẳng có gì là thần thông cả. Do đó, có thể có nhiều quí độc giả, nếu thực sự đắc thiền hữu sắc, thì tất nhiên đã có những động tác tâm, sắc bình thường, nhưng đó là thần thông thực sự mà quí độc giả vô tình không biết. Rất nhiều người lầm tưởng đó là thần thông thuộc về thân tâm dục giới. Điều này tuyệt đối mâu thuẫn và sai lầm so với lý thuyết Phật giáo cũng như Raja Yoga. Thần thông xuất hiện ở Samadhi hoặc Tứ thiền hữu sắc (nhất tâm = Samadhi). Không có tài liệu chính qui nào nói về thần thông xuất hiện ở thân tâm thế gian, dục giới...

Lý thuyết về luồng tâm thức của VDP lại một lần nữa khẳng định vấn đề này một cách rõ ràng và chắc chắn, không thể lầm lẫn được. Thần thông xuất hiện ở giai đoạn Javana tốc hành tâm (lúc nhập định) - thuộc hệ thống thiền hữu sắc - không hề có tài liệu nào nói thần thông xuất hiện trước khi nhập định, lúc người tu đang ở cảnh thế gian, dục giới ... xin quí độc giả vui lòng xem lại Trung Bộ Kinh, các bộ Vi Diệu Pháp, chân ngôn Patanjali.

Đây có thể là một tin mừng cho một số quí đọc giả lâu nay tưởng lầm là mình tu tập chẳng có kết quả gì cả. Cũng thông tin này, lại có thể có một số quí độc giả lâu nay tưởng lầm rằng mình đắc thần thông, nhưng thật ra là thần thông của tha lực, không phải thực sự do định lực mà có. Đa nhân cách là một hiện tượng rất phổ thông.

Sự thật thần thông theo quan điểm của Phật giáo và Raja Yoga không phải là mục đích di sơn, đảo hải, sờ mặt trăng mặt trời, bay trên mây. Mục đích thực sự của tu thiền định là đạt được sự minh triết.
Câu 5, phần 3 của Kinh Patanjali đã ghi rõ: Thực hiện được Samyama là tiến đến giai đoạn tri giác.
Câu số 9: Tinh thần tự chủ đó là trạng thái tinh thần phát huy quyền lực trên mọi biến thể. Đây là những câu mở đầu cơ bản nhất của chương nói về thần thông. Trường phái Phật giáo cũng định nghĩa về thần thông: Thông tuệ, trí tuệ, thông suốt, biết mình và người trong, ngoài. Tóm lại, cả hai trường phái đều gặp nhau trong một từ chung: Minh triết.
Câu 51: Từ bỏ thần thông đã có, thì diệt được các điều xấu xa đi đến đích giải thoát, tự do.

5. Tập luyện thần thông khó hay dễ? Hậu quả của thần thông ở mặt tích cực, tiêu cực là gì và thần thông nào là cao nhất?

     a.Tập luyện thần thông khó hay dễ còn lệ thuộc vào việc người ta quan niệm thế nào là thần thông.

     - Những hiện tượng tự nhiên khách quan như có người có thể hút các đồ vật, làm toán rợ ... thì chẳng cần phải tập luyện gì cả.
     - Dựa vào các thực thể, các chư vị ở các cảnh giới khác thì cũng không phải tập luyện gì nhiều. Người ta thường gọi đó là bị nhập: lên đồng, cô, cậu, trạng ... Rất nhiều người gọi là tu thiền định cũng ở trạng thái này; trong đó có những tập thể như: Phật giáo Cao Đài, Subut, La Ti Thăng ...
     - Tu thiền cũng như thôi miên, thực sự sử dụng định lực của chính mình, tập trung tư tưởng, để làm cái gì đó lại là một vấn đề khác hẳn - Quí độc giả nào tự mình tập luyện để đạt được một khả năng nào đó, chắc chắn đã thấy việc tập luyện không phải là dễ - Tập thần thông không phải là chuyện dễ dàng, tự nhiên mà có, nó cũng phải đi qua rất nhiều giai đoạn, mất rất nhiều thời gian, công sức ...

Nếu chúng ta qui ước với nhau phát biểu sau đây: "Thần thông là những cử động của sắc và tâm của các thực thể ở các cảnh giới khác với cảnh giới loài người", thì với phát biểu này, người tu có quyền chọn lựa khá rộng rãi: từ thần quyền ... cho đến tập luyện nhãn của các vị ở cõi thiền hữu sắc, kể cả ở các cõi cao hơn nữa, đó là sự tùy chọn của quí độc giả.
Chúng ta đã định nghĩa "thần thông là cử động của tâm và sắc ...". Cử động, đi, đứng ... cũng phải tập từ từ, từ bò đến đi chập chững rồi mới chạy nhảy ... thì ở  cảnh giới khác cũng vậy. Ở cảnh dục giới thế gian có em bé nào - dù là thần đồng - 12,13 tuổi mà lái được máy bay tiềm kích, trực thăng ... bao giờ đâu ! Đào tạo phi công tiềm kích, trực thăng ... không phải chuyện đơn giản.

     b. Hậu quả của thần thông

Chỉ duy nhất trong lúc đang nhập định, chúng ta phát hiện ra một loại thân tâm mà mình vốn có, đó là tâm và sắc của hệ thống thiền định hữu sắc. Trong trạng thái này, thân tâm của người tu thiền định, ngồi im bất động, chỉ có tác dụng là một công cụ hữu duyên, tạm thời. Thân tâm ở cảnh hữu sắc này có những sinh hoạt hết sức bình thường, con người chúng ta lại gọi là thần thông, đây là một loại thần thông không phải xuất phát từ dục vọng, không cầu, không mong, chỉ là quả báo tất yếu của thiền hữu sắc. Vậy mà Vi Diệu Pháp vẫn coi những tâm này có tính chất dị thục có nghĩa là tạo ra quả báo, cũng may là thiện quả.

Lại có một loại thần thông do các thực thể ở cảnh dục giới, xuất phát từ tâm tham ái, chấp ngã do tin tưởng mình có một cái tôi thực sự, trường tồn, hạnh phúc ... Loại thần thông do tâm mạn thực sự là một cuộc chạy đua vũ trang trên vòng đua Olympic, mang tên cuộc đua "Thập nhị nhân duyên", còn gọi là vòng đua của luân hồi sinh tử hay vòng đua của thần chết, mà đích đến là địa ngục trong chính tâm của mình. Đó là một trò chơi ... giải khát bằng rượu độc

Thần thông và phiền não là một hàm số đồng biến. Thần thông phát triển thì phiền não tăng trưởng, chẳng làm gì trong lòng cũng buồn phiền một cách kỳ lạ. "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay". Quí độc giả nào từng trải qua việc tập luyện thần thông thực sự sẽ cảm nhận được tâm trạng này. Truyền thống Phật giáo, cũng như Raja Yoga luôn cổ vũ, để có tâm "duy tác". Raja Yoga khuyến dụ tu sĩ phải từ bỏ thần thông, bỏ tâm mạn, đừng nghe lời nịnh hót của thần thánh, nếu muốn giải thoát.

     c. Thần thông nào cao nhất?

Thần thông cao nhất có lẽ là không có thần thông, vì sắc tức thị không, không tức thị sắc, điều này người tu ai mà chẳng biết. Thật vậy, bước ra khỏi vòng luân hồi sanh tử thì thần thông dùng để làm gì? Một nơi không có chiến tranh, thì vũ khí dùng để làm gì? Cổ nhân từng nói "quân tử phòng thân tiểu nhân phòng gậy". Thần thông chỉ có giá trị ở một môi trường, một tập thể nhất định nào đó mà thôi!.

Chúng ta thử tưởng tượng một kịch bản hư cấu như sau: Có một hôm, ti vi khắp thế giới thông báo, Tổng thống của một số nước: Nga, Iran, Serya, North Korea, ... đồng loạt tuyên  bố "I have no ego" (tôi không có ngã) ... cổ phiếu khắp thế giới sẽ tăng vọt như diều gặp dông! ... 11 hàng không mẫu hạn của Mỹ, F35, F22, trực thăng Hybrid Osprey V22, Apache Block III mang ra sale off ... Thần thông của người tu thiền định lúc đó ... cũng phải  For Lease ... vì không còn việc phải dùng. Địa đàng Eden không có kho để tồn trữ thần thông và vũ khí. Bách khoa từ điển WIKIPEDIA tại EDEN không có từ ngữ chiến tranh, quan trọng hơn nữa không có chữ : ICH, IO, JE, I, NGÃ, TÔI, ...

6. Nhóm CTR không có ý định chống lại khoa học hiện đại và đại diện cho Satan.
   
Qui luật tư duy hiện đại giúp gì cho bộ môn này?

     * Qui luật tư duy (mà chúng ta đang sử dụng) thực sự có chắc là phản ánh được TOÀN BỘ, TRUNG THỰC, CHÍNH XÁC thế giới tự nhiên khách quan không?
     * Nhiệm vụ của qui luật tư duy (luận lý hình thức) là cây cầu nối giữa qui luật logic và thế giới tự nhiên khách quan - Cây cầu nối này thực sự có làm tốt được sứ mệnh của mình 100%?
     * Toán học chỉ là một dạng cụ thể hóa, hữu hình hóa, ngôn ngữ hóa, những qui luật tư duy chủ quan của con người, chứ chưa chắc cụ thể hóa, hữu hình hóa, ngôn ngữ hóa các qui luật tự nhiên của thế giới khách quan. Chính bản thân qui luật tư duy của con người lại chẳng biết dựa vào đâu! Có người bảo: "dựa vào thực tế khách quan ..."

Do đó, phát biểu của Stephen Haw King "một lý thuyết khoa học là một mô hình toán học mô tả và chuẩn tác hóa được các quan sát" và coi đây là một lý thuyết "tốt". Đây là một hướng đi đúng, hay là một sai lầm lớn lao mang tính cách lịch sử, làm phương hại đến tiến hóa của nhiều tỷ người trên hành tinh này?

Có thể có rất nhiều hệ thống, qui luật tư duy khác, hoàn toàn không cần đến ngôn ngữ toán học. Hay nói một cách khác, toán học sản phẩm tư duy của con người không có chỗ đứng trong nhiều hệ thống tư duy khác. Thí dụ điển hình:
     * NOSTRADAMUS
     * VANGA
Những người này không cần và không thể sử dụng công cụ toán học. Họ sử dụng một hệ thống qui luật tư duy khác. Trong tác phẩm "Những thế kỷ", chúng ta không thấy một dấu vết nào của toán học. VANGA "l' horacle Bulgarie" nhà tiên tri Bulgarie khiếm thị - được gọi là "sage de la campagne" (thông thái nhà vườn) - có lẽ không biết đến bộ môn toán học hiện hữu trên đời này.
Khả năng tiên tri (precognition) của hai vị này chẳng liên quan đến một mi li mét  trường phái toán học nào cả. Người chết có lẽ có bức xạ tàn dư để có thể trông thấy, còn tương lai thì có bức xạ nào? Có lẽ khoa học hiện đại sắp nói lời chia tay với con người.

Phần nhận xét xin dành cho quí độc giả.

Thay lời kết:

          Có Tài mà cậy chi Tài
          Chữ Tài liền với chữ Tai một vần
          Đã mang lấy nghiệp vào thân
          Cũng đừng lẫn trách Trời gần, Trời xa
          Thiện căn ở tại lòng ta
          Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài
          Lời quê chắp nhặt dông dài
          Mua vui cũng được một vài trống canh
          (Kiều - Nguyễn Du)


          Hết


Để tiện cho việc đăng bài và dòng đọc được trôi chảy. Phần đàm luận về đề tài này, xin nhấn chuột vào link dưới:
https://www.hoasentrenda.com/smf/index.php?topic=10001.msg39357#msg39357

Một lần nữa chúng tôi thành thật cảm ơn thời gian quí báu của quí đọc giả.


Nhóm CTR






hstd


hstd


CTR

#28

_________________________________________________

Tư tưởng, lời nói và việc làm của một người luôn phản ánh tâm thức của người ấy và với Định luật tương ưng nó sẽ ứng với một cảnh giới khi ta tu tập và Nhập Định. Thật vậy, một người thường nghĩ về điều bất thiện sẽ luôn thích đề cập, bàn đến những điều chẳng lành và hệ quả là sẽ làm những chuyện bất lành và ngược lại v.vv....

Sau đây là những mẩu chuyện mà nhóm CTR được nghe người anh Cả của mình kể lại khi giải thích một số việc. Xin được chia sẻ hầu quí đọc giả.

Một hôm vừa nhắm mắt thì một vị Quán Tự Tại mặc đồ màu nâu đã xuất hiện và hỏi anh:
- Chú có muốn xuống nước chơi không?
Anh Cả (nghĩ thầm): Xuống nước à? Uh huh! Cũng được, thử xem? và hỏi lại: Nhưng làm thế nào mà xuống?
Vi QTT: Chú cứ nghĩ về cái rạch đằng trước nhà đó và cứ nghĩ liên tục về nó nhé!
Thế là anh Cả cứ nghĩ miết về cái rạch ấy và một lần tự nhiên những cọng cỏ sát dưới đáy rạch xuất hiện ngay trước mặt và chốc sau nó biến mất. Rồi từ từ những lần sau đó anh bắt đầu xuống dưới đáy rạch nước dễ dàng hơn và đó là khởi đầu của kỹ thuật xuất hồn bằng luồng Bhavanga sau này.

Lại một lần trong buổi nhập định của những năm đầu tu hành, người anh Cả của CTR thấy mình đến một thành phố thuộc về Ấn Độ; và tại đây anh gặp một người cao to, ốm và có mái tóc dài. Người này mặc bộ quần áo màu trắng ngà hơi ngã vàng. Tự nhiên anh biết đó chính là J. Krisnamurti, mặc dù trước đây anh không thích J. Krisnamurti. Anh ngồi ở một bờ hồ và Krisna đã dạy anh cột 2 tay và 2 chân áp vào nhau khi quán tưởng. Câu chuyện qua đi rất lâu. Sau này anh có một người bạn lai Nhật tu yoga và anh đã đem câu chuyện vừa rồi để hỏi người bạn này; thì anh mới biết là việc cột tay chân như vậy là phương pháp để tuyệt dục.

Câu chuyện khác xảy ra từ nhiều chục năm về trước khi người anh Cả của nhóm còn tu mật tông. Trong lúc nhập định, anh gặp một vị Quán Tự Tại và vị này đã chỉ dẫn anh là đi đến một ngôi chùa ở tại Sài Gòn, mà trước đây anh chưa hề đến bao giờ, gặp một người được báo trước để lấy một tài liệu. Khi anh thực sự đến đó thì đã gặp một vị sư tu theo phái khất thực mời anh ăn cơm và trao cho anh hai đàn pháp là "Quán âm tự tại" và "Di Đà". Khi thực sự cầm đàn pháp này trong tay, anh nói còn tưởng mình là mơ. Hiện nay sau nhiều năm, đàn pháp Quan Âm đã bị thất lạc, còn đàn pháp Di Đà vẫn còn được lưu giữ nên anh chuyển cho nhóm CTR; và nhóm chụp lại và post lên cho quý độc giả có dịp tham khảo.








Trên đây chỉ là những đoản truyện của thời mới tu tập. Còn rất nhiều những mẫu chuyện về thần thông mà hữu duyên nhóm sẽ chia sẻ thêm hầu quí đọc giả. Thành thật cảm ơn thời giờ quí báu của quí vị.


Nhóm CTR


p/s: Vì sự tế nhị nên Nhóm phải làm mờ 2 hình minh họa cho câu chuyện trên. Thành thật xin lỗi đọc giả và ACE của diễn đàn. Nhóm cũng cảm ơn huynh trigia đã nhắc nhở.

Chúc quí vị một cuối tuần thật an lành, tinh tấn!



" thần thông là hệ quả tất yếu của Tứ thiền hữu sắc ".




CTR

#29
CTR NHẬP ĐỊNH TÌM TCH...

Bạn TCH thân mến,

Trích dẫn từ: TCH trên Th8 18, 2012, 07:43 PM
 Để "bóc tem" đề tài này, xin hỏi trong phần khả năng khách quan tức là họ tự có khả năng đó sao. Chứ không phải do luyện tập  ???. Vậy nhóm CTR có từng tìm hiểu nguyên nhân vì sao họ lại có khả năng đó chưa.

Bạn là người "bóc tem" đề tài và đã đặt câu hỏi cho CTR.  Làm sao có thể tìm ra bạn trong cõi dục giới hàng tỷ người này để biết xem người hỏi CTR là ai và bạn thực sự muốn biết điều gì qua câu hỏi đó ?

Từ đầu đến giờ, CTR không bàn gì nhiều; các đề tài đã post thì chỉ xoay quanh mỗi chuyện nhập định. CTR là nhóm người thích thực nghiệm nên đã nhập định để tìm kiếm bạn.
Cách thức là CTR đã nhập định để chuyển qua chiều không gian khác, trong cảnh giới này thì CTR mở nhãn và dựa vào câu hỏi bạn đặt mà nhóm lần tìm ra. Hình ảnh bạn hiện ra rõ nét dần và CTR đã biết được những điều sau đây:

1. Câu hỏi mà bạn đặt cho CTR không với mục đích ứng dụng để bạn tu tập, mà bạn chỉ hỏi nhóm để biết vậy thôi.
2. Bạn là người thích hỏi điều này điều kia, không phải riêng với CTR mà cho những người khác nữa
3. Có lần bạn cũng nhận xét về nhóm như sau:

TCH cũng thấy vậy. Mấy loạt bài đầu thì TCH đọc còn thấy thú vị, còn kể từ loạt bài Nguyên tắc búp bê Matryoshka ...thì cảm thấy...thế nào ý, không biết nội dung ,mục đích tác giả muốn truyền đạt điều gì đến độc  giả, thấy các lý thuyết rất là..hỗn hợp nhiều trường phái, như là 1 món lẩu thập cẩm  , tác giả đề cập chỗ này 1 ít chỗ kia 1 ít, những loạt bài này tất nhiên là không đề cập tới việc thực hành, còn về mặt lý luận thì cũng không biết chỗ nào để mà bàn luận. Đúng là những bài viết chỉ có tác dụng về mặt giả thuyết, nêu ra quan điểm của 1 nhóm.

Tuy là bạn viết vậy, nhưng CTR lại biết bạn là một người có một bản chất hiền lành, tốt bụng, tính tình dễ thương chân thật và có hảo cảm với nhóm CTR !!! chi tiết cuối cùng này làm CTR ngạc nhiên đó bạn  ;D ;D ;D

Do biết được những điều này, nên CTR đã hoàn tất 2 bài về "những hiện tượng khách quan của thần thông" là hiệu ứng Uri Geller và bài Hào Quang để chia xẻ cùng bạn; nhưng do nhóm quá bận rộn nên mới chỉ post lên được một bài, còn bài kia đang sửa chữa lỗi chính tả và câu cú. Nội dung những bài này đáp ứng nhu cầu hỏi của bạn là chính, chứ không đi sâu vào cách luyện tập vì đó không phải mục đích của bạn khi đặt câu hỏi cho CTR.

Vài dòng chia sẻ cùng bạn với hy vọng mang lại chút niềm vui cho bạn buổi chiều cuối tuần. CTR thực sự không biết bạn là ai; vì vậy chỉ có bạn mới có thể "chấm điểm" những gì CTR nói mà thôi. Nếu sai, xin bạn để CTR biết. Lúc đó chắc CTR phải hát bài ca :"Cho tôi quay lại từ đầu" để học cách nhập định lần nữa.


Chúc bạn vui và tinh tấn


Nhóm CTR